30 Tuổi Vẫn Là Trẻ Con, 50 Tuổi Tái Hôn Cũng Vừa Lúc - Chương 1: Chuyến Tàu Chia Ly Và Lời Nói Dối Mùa Đông
Cập nhật lúc: 24/01/2026 20:49
Tháng Chạp năm 2003, tuyết ở huyện Bình Nguyên rơi thật dày.
“Mẹ, sao mẹ lại trộm đồ?”
Bao tải than trên vai Trịnh Mỹ Linh bỗng nhiên nặng trĩu, đè sống lưng bà cong xuống. Bà không quay đầu lại, chỉ im lặng đặt mạnh bao than xuống cạnh lò sưởi.
“Mẹ, sao mẹ lại trộm đồ?”
Cục xà phòng to bằng móng tay trượt qua kẽ ngón tay bà, tuột đi mấy lần bà mới miễn cưỡng chộp lại được. Nước than đen ngòm xoáy tròn chảy xuống cống thoát nước, giống như một con rắn đen nhỏ chui tọt xuống dưới.
Lửa trong lò nổ một tiếng lép bép, b.ắ.n ra tia lửa nhỏ.
Giọng nói của con bé chín tuổi vẫn dán c.h.ặ.t vào sau gáy bà, còn buốt hơn cả gió bấc: “Bà nội bảo, trộm than sớm muộn gì cũng bị cảnh sát còng tay.”
Tiếng còi tàu hỏa từ xa kéo dài một hồi, sàn nhà rung lên bần bật như có luồng điện chạy từ lòng bàn chân lên đến tim. Đợi động tĩnh kia hoàn toàn dứt hẳn, sống lưng đang căng cứng của Trịnh Mỹ Linh mới chùng xuống.
Khi cởi bộ đồ lao động ra, vụn than rơi lả tả xuống đất. Bà quay đầu nhìn con gái, con bé đang ôm c.h.ặ.t con b.úp bê vải lòi bông trong lòng, ánh mắt lại sắc như d.a.o găm liếc về phía này.
“Keng” một tiếng, Trịnh Mỹ Linh vo tròn quần áo thành một cục đen thui ném vào chậu giặt, “Ranh con đừng có nói bậy, là mẹ nhặt than vụn bên đường sắt đấy.”
Ánh mắt đứa trẻ vụt sáng lên: “Thật hả mẹ? Thế lần sau mẹ cho con đi bới với, mắt con tinh lắm.”
Dạ dày Trịnh Mỹ Linh trào lên một luồng chua xót như vị lê đông lạnh.
Nửa đêm hôm đó, nước đen ngòm trong chậu giặt phản chiếu bờ vai đang run lên từng hồi của Trịnh Mỹ Linh.
Đây là lần đầu tiên bà làm kẻ trộm, cũng là lần đầu tiên bà nói dối con gái mình.
Nhà Trịnh Mỹ Linh là một cái sân nhỏ sát đường sắt, băng qua đường ray là khu chợ được cải tạo từ xưởng máy móc cũ. Những công nhân cũ bị sa thải năm nào đi một vòng lớn, rốt cuộc không ít người lại quay về chốn này. Chỉ là thân phận đã khác, từ những công nhân bưng bát sắt biên chế, giờ thành những tiểu thương thức khuya dậy sớm.
Vợ chồng Trịnh Mỹ Linh cũng kiếm ăn trên con đường đối diện đường sắt ấy. Họ mở một tiệm đồ nướng nhỏ, mặt tiền không lớn, mỗi ngày quá trưa mới mở cửa. Buổi sáng, mặt tiền cửa hàng là thiên hạ của mẹ chồng Sử Tú Trân, bà cụ trước kia nhào bột hơn nửa đời người ở nhà ăn xưởng máy móc, giờ đây 3 giờ sáng đã phải bò dậy hấp bánh bao màn thầu.
Đêm hôm đó, khi Trịnh Mỹ Linh bị tiếng ồn ào huyên náo từ phía đường sắt đ.á.n.h thức, bà còn tưởng là động tĩnh dọn hàng ở chợ. Mãi đến hôm sau nói chuyện với mẹ chồng, bà mới biết đó là đám “dân mót than” đang bới than trên tàu hỏa.
Cứ đến 1 giờ sáng thứ Hai, Tư, Sáu, đoàn tàu chở than từ khu mỏ Bình Nguyên chạy qua sẽ dừng lại ở đây 30 phút để đổi đầu máy. Có kẻ gan lớn sẽ nhân lúc tàu dừng mà leo lên toa xe chở đầy than, một người truyền một người, dần dần, người gan lớn nhiều lên, người dám leo lên tàu ngày càng đông, người đông thì gan cũng to ra.
Đàn ông ở trên tàu dùng xẻng xúc xuống, đàn bà ở dưới dùng bao tải hứng, nhà nào phối hợp tốt thì cả mùa đông không lo thiếu than đốt, dư ra còn có thể đem bán.
Trước khi trời sáng, bên đường sắt luôn vương vãi lại chút than vụn, đen bóng trên nền tuyết trắng. Các cụ già dậy sớm nhìn thấy liền lắc đầu, bảo thời buổi này, đến than đá cũng biết mọc chân mà chạy.
“Lão Trần bán cá, chân là do hôm trước leo toa tàu bị trượt ngã đấy, cứ bảo là lúc dọn hàng dẫm phải băng, ai mà chẳng biết tỏng là chuyện gì.”
Trịnh Mỹ Linh nghe xong hoảng hốt: “Con đã bảo đất bằng sao mà ngã đau thế được.”
Lúc ấy, Trịnh Mỹ Linh chưa nảy sinh cái tâm tư lệch lạc đó.
Tháng Chạp năm 94, cỗ máy dập cuối cùng của xưởng máy móc Bình Nguyên trút hơi thở cuối cùng. Loa phát thanh công suất lớn rè rè tiếng điện lưu, rèn tờ thông báo phá sản thành một miếng sắt nung đỏ, in hai chữ “Nghỉ việc” lên lưng hơn hai ngàn con người.
Năm ấy Trịnh Mỹ Linh mới ngoài hai mươi, ôm Lâm Tuyết Cầu mới nửa tuổi chen chúc trong đám đông. Đứa bé nhẹ bẫng như bó cải trắng phơi héo, đến tiếng khóc cũng chỉ là hơi thở yếu ớt.
Cửa sổ đêm khuya kết đầy hoa băng, đôi vợ chồng trẻ vây quanh bếp lò lo âu.
Xưởng máy móc đã không phát lương từ nửa năm trước, Trịnh Mỹ Linh cũng mất sữa, Lâm Chí Phong đành ngồi xổm trước bếp, dùng thìa sắt nhỏ khuấy cháo bột trộn vụn lòng đỏ trứng. Số trứng gà này là hắn chạy khắp ký túc xá nhân viên tạp vụ xin làm “quà đầy tháng”. Tuyết Cầu ăn vào là nôn, Trịnh Mỹ Linh dùng thìa hứng lấy, lại c.ắ.n răng bón ngược trở lại miệng con.
Quãng ngày khổ cực ấy như d.a.o cùn cứa thịt, Trịnh Mỹ Linh c.ắ.n c.h.ặ.t răng hàm mà vượt qua. Nhưng mùa đông năm nay tà quái quá, bà muốn Tuyết Cầu được ấm áp một chút, ít nhất ban đêm ngủ đừng bị lạnh đến mức tỉnh giấc.
Biển cảnh báo loang lổ bên đường sắt hắt lên ánh lạnh dưới ánh trăng.
Khi bà quấn c.h.ặ.t khăn trùm đầu, giấu bao tải, nắm c.h.ặ.t cái xẻng nhỏ đi đến dưới toa tàu, phía sau vẫn không ngừng có “dân mót than” ùa tới. Họ phần lớn dùng khăn che mặt, nhưng Trịnh Mỹ Linh có thể đoán ra thân phận qua dáng người, quần áo: Lão Trần bán cá đi khập khiễng cái chân trái bị ngã, thím Vương cửa hàng lương thực lộ ra nửa mái tóc bạc dưới khăn trùm.
Trịnh Mỹ Linh nắm c.h.ặ.t cái xẻng sắt nhỏ dùng để xúc tro lò, vụng về đào bới trên đống than. Cái xẻng quá ngắn, mỗi lần xúc đều phải cong cả người xuống, người đàn ông bên cạnh xúc một cái là được nửa bao, còn bà bới nửa ngày, than vụn mới miễn cưỡng che kín đáy bao tải, sau đó bà dứt khoát dùng tay bốc thẳng vào bao.
Đó là lần đầu tiên Trịnh Mỹ Linh làm dân mót than, cũng may là lần cuối cùng.
Cuộc vây bắt đến nhanh như điện. Sau một tuần nằm vùng, cảnh sát đường sắt phối hợp với lực lượng của hai đồn công an, triển khai cuộc đột kích giữa đêm gió rít. Khi tiếng còi cảnh sát x.é to.ạc màn sương lạnh, Trịnh Mỹ Linh hoảng hốt không chọn đường chạy, nhét nguyên cả nửa bao than vào lu dưa chua.
Vài ngày sau, vợ lão Trần bán cá đến đổi tiền lẻ, Trịnh Mỹ Linh mới biết, những người bị bắt đêm đó bị tạm giam một tháng không nói, còn bị phạt mỗi người 4000 tệ.
Tờ biên lai phạt 4000 tệ giống như một cái lò lửa khổng lồ, thiêu rụi toàn bộ chút ấm áp mà đám dân mót than trộm được.
Một tuần sau đó, Trịnh Mỹ Linh như bị ma làm, cứ liên tục xúc than vào lòng lò. Que cời lò chọc vào thành lò kêu loảng xoảng, tia lửa b.ắ.n tung tóe ra ngoài.
Chồng bà, Lâm Chí Phong, xưa nay mặc kệ chuyện trong nhà, tự nhiên không phát hiện ra nửa bao than lai lịch bất minh kia. Mãi đến một đêm bị nóng tỉnh, mới mơ màng lầm bầm một câu: “Đốt vượng thế, tưởng nhà mình mở mỏ than à?” Nói xong lại xoay người ngáy khò khò.
Bao than đó đốt sạch sẽ, đến chút vụn cũng không còn. Nhưng cái ung nhọt trong lòng Trịnh Mỹ Linh lại càng kết càng cứng.
Trịnh Mỹ Linh chưa bao giờ tin vào số mệnh, nhưng trong những năm tháng sau này bà cứ không nhịn được mà nghĩ: Nếu đêm đó không leo lên toa tàu chở than ấy, có lẽ bà sẽ không mất đi đứa con trong bụng, có lẽ bà còn có thể tiếp tục chịu đựng mùi dê nồng nặc vĩnh viễn không tan trên người Lâm Chí Phong.
“Ranh con đừng có nói bậy, là mẹ nhặt than vụn bên đường sắt đấy.” Đây là lời nói dối đầu tiên Trịnh Mỹ Linh nói với Tuyết Cầu.
Lời nói dối giống như tuyết rơi trên đống than, nhìn thì sạch sẽ, bên dưới lại càng che càng đen.
Hai tháng sau, bà lại nói với Tuyết Cầu lời nói dối thứ hai: “Tuyết Cầu, mẹ sẽ quay về đón con.”
Hôm đó là ngày 16 tháng Giêng năm 2004, trong không khí còn phảng phất mùi lưu huỳnh của pháo hoa đêm qua, như ai đó rải một nắm tro than chưa cháy hết vào giữa đất trời.
Trịnh Mỹ Linh kéo chiếc vali màu đỏ, bánh xe lăn trên khe gạch sân ga, Lâm Chí Phong đi theo phía sau, tay trái xách chăn đệm chậu rửa mặt, tay phải dắt Lâm Tuyết Cầu —— đứa bé đang dùng vạt áo bọc mười quả trứng luộc nước trà, cẩn thận che chở trong lòng.
Đêm qua, Lâm Chí Phong đã gõ từng quả trứng đã luộc chín cho nứt vỏ, rồi ngâm lại vào nước kho nấu cả đêm. Sáng sớm trước khi ra cửa, hắn hâm nóng lại, cẩn thận bỏ vào túi rồi còn dùng khăn quàng đỏ bọc kín mít.
Trịnh Mỹ Linh đón lấy bọc trứng trong lòng con, cởi khăn quàng đỏ ra, thuận tay đổ chúng vào cái chậu tráng men.
“Đi Thâm Quyến ở nhà lầu với mẹ được không?” Trịnh Mỹ Linh ngồi xổm xuống, quàng chiếc khăn màu đỏ còn vương hơi ấm của trứng lên cổ Tuyết Cầu, hôm nay bà tô son, trông tinh thần hơn ngày thường rất nhiều.
“Con ở với ba nướng cánh gà.” Tuyết Cầu không hề do dự.
Tiếng cười của Trịnh Mỹ Linh mắc kẹt trong cổ họng, biến thành tiếng ho khan ngắn ngủi.
Người tàn nhẫn nuôi ra con gái cũng tàn nhẫn y hệt. Khi Trịnh Mỹ Linh kiểm tra bài tập, nét b.út đỏ gạch chéo có thể rạch rách giấy, còn Lâm Chí Phong chỉ biết lén lút nhét đồ ăn vặt vào cặp sách con —— người mẹ vất vả quản giáo cả ngày, sao có thể so được với người cha hiếm khi về nhà nhưng lại luôn chọc con cười.
Trịnh Mỹ Linh vươn tay ấp lấy vành tai đỏ ửng vì lạnh của Tuyết Cầu: “Đợi mẹ đứng vững gót chân...”
“Đoàn tàu K128 sắp vào trạm.” Tiếng loa phát thanh nuốt chửng nửa câu sau của Trịnh Mỹ Linh, “Mẹ sẽ quay về đón con.”
Tay Trịnh Mỹ Linh nắm lấy sợi dây thừng bó chăn đệm, Lâm Chí Phong lại không buông tay: “Cần tôi đưa em đến chỗ ngồi không?”
“Không cần, anh xem phía trước là toa số 5 rồi, không mấy bước đâu, anh trông chừng Tuyết Cầu, chỗ này đông người.”
“Trứng luộc nước trà đi đường đói thì ăn, đến Cáp Nhĩ Tân tìm quán cơm ăn miếng cơm rồi hẵng lên máy bay, đừng tiếc tiền.” Dặn dò xong, Lâm Chí Phong rốt cuộc cũng buông tay.
Vali lăn nghiến qua sân ga, Lâm Tuyết Cầu nhìn mẹ ngày càng xa, cô bé đột nhiên hét lớn: “Mẹ!”
20 năm sau Tuyết Cầu vẫn còn nhớ rõ hình ảnh ấy. Khoảnh khắc mẹ xoay người, ngọn tóc bay lên, cha lại đột nhiên cúi xuống buộc lại dây giày vốn dĩ không hề tuột. Tuyết Cầu giật chiếc khăn quàng đỏ xuống, lảo đảo chạy về phía trước, vẫy vùng sắc đỏ ấy giữa không trung.
Khi Tuyết Cầu rốt cuộc cũng nhào được vào lòng mẹ, hai tay Trịnh Mỹ Linh lại nắm c.h.ặ.t lấy quai hành lý. Cái ôm ấy ngắn ngủi như một hơi thở phả ra khói trắng, thoáng qua rồi biến mất.
Tuyết Cầu giơ chiếc khăn quàng đỏ lên: “Mẹ, khăn của mẹ.”
Sự mong chờ trong mắt hóa thành chua xót, Trịnh Mỹ Linh dùng sức chớp mắt, cắt đứt dòng nước mắt chực trào: “Thâm Quyến không có mùa đông, mẹ không dùng đến, để lại cho con đi.”
Tàu hỏa chuyển bánh, cửa kính toa xe phản chiếu khuôn mặt Trịnh Mỹ Linh, Tuyết Cầu lại đuổi theo hai bước, nhưng bị Lâm Chí Phong xách cổ áo giữ lại.
“Mẹ con cầm tinh con phượng hoàng.” Lâm Chí Phong dùng cổ tay áo lau nước mũi nước mắt cho Tuyết Cầu, “Cái ổ gà này của ba không giữ được kim phượng hoàng.”
“Là vì đứa em bị mất sao?” Tuyết Cầu nhìn chằm chằm vết dầu mỡ trước vạt áo khoác quân đội của hắn, “Hai người mới không sống với nhau nữa?”
“Đâu có.” Ngón tay Lâm Chí Phong quẹt nhẹ ch.óp mũi Tuyết Cầu, “Mẹ con chí khí cao, muốn đưa con ra nước ngoài học, mẹ muốn đi kiếm tiền lớn, tích cóp học phí du học cho con.”
“Vậy sao ba không đi cùng?” Tuyết Cầu tiếp tục truy hỏi.
“Ba chỉ muốn ở Bình Nguyên nướng cánh gà. Rễ của ba cắm sâu vào cái giá nướng BBQ rồi.” Lâm Chí Phong quàng chiếc khăn đỏ lên cổ Tuyết Cầu, hỏi con: “Còn con, sao không đi cùng mẹ? Không muốn làm phượng hoàng nhỏ, lại muốn làm chim sẻ à?”
Tuyết Cầu toét miệng cười, nụ cười rất khó coi: “Con nghĩ mẹ không nỡ bỏ con, có thể giữ mẹ lại được.”
Lâm Chí Phong sững sờ, tay xoa đầu Tuyết Cầu hơi run: “Ngốc ạ! Mẹ chắc chắn luyến tiếc con. Nếu con muốn theo mẹ, ba đưa con đi tìm mẹ.”
“Con không đi.” Tuyết Cầu dậm chân, ngắt lời Lâm Chí Phong, “Bà nội bảo, đi theo chỉ là gánh nặng!”
“Con biết cái gì gọi là gánh nặng?”
“Chính là...” Tuyết Cầu hít nước mũi, “Làm mẹ không kiếm được tiền, còn phải chịu thêm phần tội.” Cô bé ngẩng đầu, giữa trán nhăn lại thành nếp, giống như một bà cụ non.
“Ba, con không muốn mẹ chịu tội.”
Lâm Chí Phong nhìn thẳng vào mắt con gái, tay xoa đầu con run rẩy: “Đúng rồi, chúng ta đừng để mẹ con chịu tội.”
Phương xa, tiếng còi tàu và rung động đường ray cùng biến mất.
Lâm Chí Phong bế Tuyết Cầu lên: “Đi, về nhà.”
Tuyết Cầu vùi cái mũi đỏ ửng vì lạnh vào chiếc khăn quàng đỏ, mùi mặn của trứng luộc nước trà còn quyện với mùi kem dưỡng da trên người mẹ.
Gió lạnh cuốn theo vụn than lướt qua sân nhỏ, Tuyết Cầu cùng Lâm Chí Phong về tới trước cánh cổng sắt sơn bạc.
