Ấn Đô Dị Yêu Lục - Chương 60
Cập nhật lúc: 12/01/2026 04:10
Tâm trạng chán nản, cứ cảm thấy đi chuyến này đến Phong Đô phí công vô ích, có chút không cam lòng.
Ở điện Tần Quảng Vương có một cái Nghiệt Kính Đài (Gương soi ác nghiệp).
Lúc sắp đi, ta nói với cái Nghiệt Kính Đài đó: "Chán không? Có muốn theo ta lên nhân gian dạo chơi một chuyến không?"
Cái thứ này không chịu nổi cám dỗ, chẳng nói chẳng rằng mọc ra hai cái chân, lén lút đi theo ta.
Chỉ là cảm thấy hơi có lỗi với Thôi Phủ Quân, người ta tiếp đãi ta như khách, ta lại cuỗm mất đồ nội thất của họ.
Số ta cũng đỏ, bắt cóc cái đài gương đi cả ngàn năm mà Phong Đô chẳng có ai đến tìm, chắc là nó cũng chẳng quan trọng lắm.
Nhưng Tiểu Điềm Điềm thì không nghĩ vậy, trong lòng nó lúc nào cũng có ý kiến với ta.
Đến ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc, Minh Phủ cũng đã thực hiện quản lý hệ thống hóa.
Con người sau khi c.h.ế.t, linh hồn sẽ tự động bị hút vào đĩa Vãng Sinh.
Đĩa Vãng Sinh chia làm ba đường thiện, ba đường ác.
Hồn thiện vào đường thiện, quỷ ác vào đường ác.
Mười tám tầng địa ngục vẫn luôn tồn tại, những oan hồn làm điều ác vĩnh viễn không có lối thoát.
Quy trình đầu t.h.a.i chuyển kiếp ngày xưa, nay đã sớm được tối giản hóa và vận hành tự động rồi.
Phong Đô Đại Đế sống quá lâu nên sinh ra chán chường, đã sớm chọn một nơi yên tĩnh để chìm vào giấc ngủ ngàn thu.
Thập Điện Diêm Vương thì người biến mất, người trực tiếp đi vào đường luân hồi, vĩnh viễn đi trải nghiệm nhân sinh.
Minh Phủ chỉ còn lại vài tên quỷ sai, cũng "tân thời" mặc âu phục giày da, trông chẳng khác gì nhân viên bán bảo hiểm.
Ta đưa Tiểu Điềm Điềm về Phong Đô một chuyến, nó tuyệt vọng vô cùng.
Câu nói "Trước Nghiệt Kính Đài không có người tốt"... nay đã trở thành truyền thuyết cổ xưa rồi.
Tiểu Điềm Điềm oán trách ta, nó cho rằng nếu không phải tại ta, Tần Quảng Vương đã đưa nó cùng biến mất rồi.
Ta thành thật nhắc nhở nó: "Ngươi chỉ là một cái gương đá, bọn họ thèm vào mà rủ ngươi chơi cùng. Nếu không có ta, giờ này ngươi vẫn đang nằm phủ bụi dưới Minh Phủ thôi."
Nó không chịu đối diện với hiện thực, cứ hễ nhắc đến chuyện này là lại tắt nguồn, màn hình đen thui.
Thật ra Tiểu Điềm Điềm đã giúp ta rất nhiều việc.
Ví dụ như lúc này đây, nhờ có nó mà ta xem hết cuộc đời của cô gái phàm trần kia, trong lòng không khỏi thổn thức.
Ta gọi điện cho Đầu To, rủ nó qua uống rượu.
Chẳng bao lâu sau, Đầu To xách theo rượu và vài món nhắm đi tới.
Chúng tôi dựng một cái bàn trước cửa tiệm, kê hai chiếc ghế đẩu nhỏ.
Trời đã tối hẳn, ngoài phố đèn đuốc sáng trưng, xe cộ qua lại như mắc cửi.
Đèn neon trước cửa tiệm cũng đã bật sáng, đủ màu lấp lánh, làm cho cái tiệm tang lễ này trông cứ như "Ngôi nhà vui vẻ" của chuột Mickey vậy.
Đầu To uống được hai ly, ngả ngớn dựa lưng ra sau ghế: "Cô cô à, uống rượu với người chán c.h.ế.t đi được, uống đến cuối cùng kiểu gì cũng là con say lăn quay ra."
Lời này kể cũng chẳng sai, ta cụng ly với nó: "Dù sao ta cũng uống mãi không say, nhìn con say rượu làm loạn có khi tâm trạng ta lại khá hơn chút."
Khóe miệng Đầu To giật giật, ghé sát lại gần ta: "C.h.ế.t thật rồi à?"
"Ừ, xương cốt không còn."
Gió đêm thổi qua mặt, lạnh thấu xương, thổi cho đầu óc tỉnh táo, nhưng lòng lại lạnh lẽo.
Đầu To nói: "Con không hiểu, tại sao con Sơn Tiêu đó lại phải ăn thịt cô ấy."
"Bởi vì cô ấy đã động lòng, đã yêu hắn ta."
"Nhưng người như Hàn Trị, phụ nữ động lòng với hắn nhiều vô kể, người khác đều yên lành, tại sao cô ấy lại bị ăn thịt?"
Ánh mắt ta trầm xuống: "Bởi vì hắn cũng đã động lòng."
"Vãi thật, lưỡng tình tương duyệt, thế nên mới ăn thịt người ta á?"
Đầu To vẫn không hiểu, hậm hực nói: "Đúng là súc sinh, cứ như loài bọ ngựa ấy, tàn nhẫn vãi linh hồn."
Ta thở dài một tiếng, ánh mắt nặng trĩu nhìn ra đường phố, trong lòng như bị nhét một đống bông gòn, nghẹn ứ.
Ta kể cho Đầu To nghe một câu chuyện.
Khi ta vẫn còn là Liên Khương, sống ở Dẫn Đô Hoa Thành.
Ở Tư Cung Sở có một gian Tàng Thư Các, thuở nhỏ ta thường cùng sư huynh vào trong đó đọc sách.
Hồi đó có một cuốn sách lụa thời nhà Ân ghi chép về một con yêu quái thế này:
Tiêu, là loài quái vật lưỡi dài, mặt người mình thú, sống trong núi sâu, chẳng ai gặp được.
Đầu thời nhà Hạ, Đại Vũ chia thiên hạ làm chín châu, dùng đức trị nước. Quan lại chín châu dâng đồng xanh để đúc Cửu Đỉnh.
Trên đỉnh khắc hình núi sông hùng vĩ và những loài vật kỳ lạ của chín châu, đặt ở kinh thành nhà Hạ.
Nếu hỏi Cửu Đỉnh có liên quan gì đến con Sơn Tiêu kia, thì đại ý cũng giống như câu nói vui thời nay: "Sau khi lập quốc thì cấm thành tinh" vậy.
Khắp nơi đem hình ảnh của những loài vật kỳ dị đúc lên đỉnh. Khi Thiên t.ử tế trời đất, sẽ cử hành đại lễ Cửu Đỉnh.
Thế nên sách "Tả Truyện" mới có đoạn viết đại ý là:
"Ngày xưa nhà Hạ có đức, đúc hình vạn vật lên đỉnh để dân biết đâu là thần đâu là quỷ; nhờ thế khi dân vào rừng núi đầm lầy sẽ không gặp phải tai ương, các loài yêu ma quỷ quái cũng không thể làm hại, để trời đất được yên bình."
Nói trắng ra, Sơn Tiêu thực chất chỉ là một loài động vật lạ, vì sức mạnh vô song, tướng mạo xấu xí nên bị người dân địa phương gọi là yêu quái.
Thế nên lúc dâng Cửu Đỉnh, châu nào đó đã đúc hình Sơn Tiêu lên trên.
Cửu Đỉnh là thần khí tối cao của Hoa Hạ, là biểu tượng quyền lực của quân vương, cũng là bảo vật cầu cho trời đất hài hòa, vạn vật bình an.
Những con "yêu" kỳ quái kia đã bị đúc hình lên đỉnh, nên dân thường vào rừng sẽ không bao giờ đụng phải.
Yêu ma quỷ quái, không thể gặp gỡ... Yêu và người ranh giới rõ ràng, nhờ có Cửu Đỉnh trấn giữ mà chẳng bao giờ chạm mặt nhau.
