Chiếc Quan Tài Đỏ Dưới Đáy Giếng - Chương 7
Cập nhật lúc: 09/08/2026 02:01
Đêm hôm đó, từ nhà ông chú ba, người từng tham gia chủ trì nghi thức tế lễ, truyền ra tiếng hét t.h.ả.m thiết kinh hoàng.
Sáng sớm hôm sau, vợ ông ấy khóc lóc kể rằng, ông chú ba nửa đêm giật mình tỉnh giấc, nói nghe thấy ngoài cửa sổ có tiếng quân đội hành quân, tiếng vó ngựa và tiếng đao kiếm va chạm, ồn ào khiến ông không ngủ được.
Ông ấy vừa c.h.ử.i rủa vừa mở cửa sổ ra xem, bên ngoài rõ ràng không có gì. Nhưng vừa quay đầu lại, ông liền thấy trong phòng đứng mấy bóng lính đầy m.á.u, mặc áo lính rách rưới.
Ông chú ba lúc đó sợ đến mức trúng phong, mồm miệng méo xệch, nằm trên giường chỉ còn thoi thóp thở ra chứ không hít vào được nữa.
Ngay sau đó, cái giếng cũ dùng để lấy nước sinh hoạt trong thôn, nước giếng chỉ trong một đêm đã trở nên đỏ ngầu đặc quánh, tỏa ra mùi m.á.u tanh nồng nặc đến buồn nôn.
Đừng nói là uống, ngay cả lại gần cũng khiến người ta hoa mắt ch.óng mặt.
Sự biến đổi của giếng nước này đã hoàn toàn đ.á.n.h sập phòng tuyến tâm lý của dân làng.
Nước sinh hoạt là gốc rễ của sự sống mà.
Rồi đến đầu làng.
Sáng sớm ngày thứ hai, có người phát hiện, tất cả ch.ó trong làng, lớn nhỏ mười mấy con đều hướng mặt về phía giếng cấm ban đầu, nằm phủ phục ngay ngắn trên mặt đất, lẳng lặng mà c.h.ế.t. Trên người không có một vết thương, cứ như là... linh hồn đã bị rút đi mất.
Cả ngôi làng bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt cổ họng, cái c.h.ế.t và sự điên loạn như một lời nguyền, rơi chính xác xuống từng nhà đã từng tham gia, hoặc biết đến luật lệ m.á.u me đó.
Không ai có thể ngủ được, ban đêm chỉ cần một chút động tĩnh của gió, cũng có thể gây ra một trận khóc la cuồng loạn.
Tôi và Mặc Uyên giống như hai bóng ma đi lang thang trong làng.
Dân làng thấy chúng tôi, đặc biệt là thấy chiếc ô đỏ trong tay Mặc Uyên như thấy Diêm Vương sống, từ xa đã tránh né hoặc trực tiếp quỳ xuống đất dập đầu, xin chúng tôi tha mạng.
Trong nỗi sợ hãi tột cùng này, một vài mảnh vỡ bị cố tình lãng quên bắt đầu hiện lên trong đầu tôi.
Tôi nhớ đến lão độc thân luôn điên điên khùng khùng, không được lòng mọi người trong làng — Lý Què.
Hồi trước trẻ con chúng tôi đều ném đá vào ông ấy, vì ông ấy luôn nói những lời đáng sợ.
Có một lần, ông ấy chặn tôi lại đôi mắt đục ngầu chằm chằm nhìn tôi, miệng phả ra mùi rượu, nói năng lảm nhảm:
"Con bé Khê... đừng lên núi sau... cái giếng đó... ăn thịt người... không nhả xương... là nợ... món nợ trăm năm... không trả hết được đâu..."
...
Lúc đó tôi chỉ nghĩ ông ấy phát điên, bây giờ nghĩ lại, trong đôi mắt đục ngầu đó có lẽ cất giấu sự thật duy nhất.
"Mặc Uyên." Tôi ngẩng đầu, nhìn người đàn ông che ô bên cạnh, "Lý Què... có phải ông ấy biết gì đó không?"
Đôi mắt đen tuyền của Mặc Uyên khẽ chuyển động, nhìn về phía căn chòi rách nát cô độc ở phía tây làng.
"Kẻ sắp c.h.ế.t, lời nói có lẽ không giả."
Anh ta nhàn nhạt nói, "Đi nghe thử, cũng không sao."
Chúng tôi đi về phía căn chòi của Lý Què.
Trên đường đi, những dân làng gặp phải đều biến sắc, lần lượt né tránh. Căn chòi thấp bé ẩm thấp, tỏa ra mùi chua loét.
Lý Què cuộn tròn trong đống rơm ở góc nhà, gầy hơn trước, trông chẳng khác gì một bộ xương bọc da.
Thấy chúng tôi vào, đặc biệt là thấy Mặc Uyên, ông ấy không sợ hãi như những người khác trái lại còn nhe cái miệng không còn mấy chiếc răng, cười hì hì, tiếng cười khản đặc khó nghe.
"Đến rồi... hì hì... cuối cùng thì cũng đến rồi..."
Đôi mắt đục ngầu của ông ấy quét qua quét lại giữa tôi và Mặc Uyên.
"Ô đỏ... quan tài... kẻ đòi nợ đến rồi..."
Tôi ngồi xổm xuống, cố gắng giữ giọng bình thản:
"Chú Lý, trăm năm trước, cái giếng đó... rốt cuộc là chuyện thế nào? Chú biết, đúng không?"
Lý Què ngừng cười, lấm lét nhìn quanh một cách thần kinh, rồi hạ thấp giọng, thần bí nói:
"Động... không phải giếng! Ban đầu... là động! Động giấu vàng! Hì hì... vàng cái con khỉ. Là bùa đòi mạng."
Ông ấy kể lại đứt quãng, lộn xộn, xen lẫn rất nhiều lời mê sảng và những cái rùng mình sợ hãi.
Nhưng kết hợp với những gì Mặc Uyên nói trước đó, cũng như lời bà nội lúc điên loạn, tôi dần chắp vá ra một đường nét rõ ràng hơn:
Trăm năm trước, dân làng vì tự bảo vệ mình, lừa bại binh vào động bịt c.h.ế.t là thật.
Nhưng lúc đó, trong động không chỉ có bại binh, còn có một thư sinh trẻ tuổi mặc áo dài đi ngang qua (tôi nhìn về phía Mặc Uyên)
Thư sinh đó dường như muốn ngăn cản điều gì đó, hoặc trên người mang theo thứ gì đó quan trọng.
Nhưng dân làng đã c.h.ế.t đỏ mắt (tộc trưởng lúc bấy giờ chính là tổ tiên của Lý Què, chính ông ta là người chủ trương diệt khẩu) sợ bại lộ tin tức, đã làm thì làm cho trót, bịt c.h.ế.t cả thư sinh trong động luôn.
Cái gọi là "tế Sơn Thần", dùng người sống tế lễ, ban đầu chính là do tổ tiên Lý Què, tên tộc trưởng tay đầy m.á.u đó, vì để bình định oán khí kép của thư sinh và bại binh mà nghĩ ra độc kế.
Ông ta dùng lời nói dối này, che đậy sự thật, cũng củng cố quyền lực của mình.
"Tổ tiên... tạo nghiệp mà..."
Lý Què hì hì cười, nhưng nước mắt lại chảy xuống, "Báo ứng... đến cả rồi... không chạy được... ai cũng không chạy được..."
Ông ấy từ trong đống rơm móc ra một hộp sắt nhỏ bẩn thỉu, rỉ sét loang lổ, nhét vào tay tôi:
"Cầm lấy... trong động... trên người thư sinh... tổ tiên lén giấu đi... nói là... chứng cứ tội lỗi..."
Tôi nhận lấy hộp sắt, cảm giác lạnh lẽo và nặng trịch.
Ngay lúc đó, ngoài căn chòi đột nhiên truyền đến một hồi náo loạn và những tiếng gào thét giận dữ.
"Chính là chúng! Yêu nữ! Còn có cả gã đàn ông ma quỷ kia nữa. Là do chúng làm quỷ."
"Gi3t chúng đi! Đốt c.h.ế.t chúng đi! Nếu không tất cả chúng ta đều phải c.h.ế.t."
Tôi nhìn ra ngoài qua khe cửa rách nát, lòng chợt thắt lại.
Chỉ thấy mấy chục dân làng do trưởng làng cầm đầu, tay cầm cuốc, d.a.o phay, đuốc, khuôn mặt mang theo vẻ hung tợn đan xen giữa tuyệt vọng và điên cuồng, đã bao vây c.h.ặ.t chẽ căn chòi rách nát nơi chúng tôi đang ở.
Nỗi sợ hãi đến tột cùng, cuối cùng đã biến thành sự điên cuồng mang tính hủy diệt.
...
