Chờ Người Ngoài Chiến Địa - 1
Cập nhật lúc: 10/09/2026 18:02
Thánh Nguyên năm thứ mười, đại hạn kéo dài, ruộng đồng nứt nẻ đến tận chân trời, đi cả ngàn dặm cũng chỉ thấy đất vàng khô cháy.
Đúng lúc ấy chiến sự lại nổi lên, trai tráng trong các thôn lần lượt bị bắt đi tòng quân.
Lương thực cạn sạch, đến vỏ cây quanh làng cũng bị bóc không còn một mảnh, ven đường thỉnh thoảng lại gặp người c.h.ế.t đói nằm co quắp, da bọc xương, chẳng còn chút sinh khí.
Những ngày đầu trong nhà hết gạo, cả nhà ta còn có thể uống nước cầm hơi.
Nhưng rồi lòng sông cũng khô trắng, nứt từng đường như mai rùa, đào sâu đến đâu cũng chẳng tìm được một giọt nước.
Muội muội ban đầu còn khóc vì đói, về sau ngay cả sức để khóc cũng chẳng còn, chỉ co mình trong góc tường, thỉnh thoảng phát ra vài tiếng nức nở yếu ớt.
Đệ đệ vẫn còn nằm trong tã, nương không còn sữa, đành c.ắ.n rách đầu ngón tay mình rồi đưa vào miệng nó, để đứa bé mút chút m.á.u mà cầm cự.
Cả nhà cứ bấu víu từng ngày như thế.
Qua được hôm nay, nhưng chẳng ai biết ngày mai lấy gì mà sống.
Một đêm sao thưa, bà lão họ Hoắc lén gõ cửa nhà ta, trên lưng mang theo một túi bột mì đen.
Con trai bà là Hoắc Viễn vừa bị trưng binh.
Quan trên cấp cho nhà họ Hoắc ba túi lương thực để người nhà cầm cự, bà không dám để ai biết, chỉ chờ đêm tối mới lén mang một túi sang hỏi chuyện kết thân.
Hoắc Viễn ba ngày nữa phải lên đường ra chiến trường.
Nhà họ Hoắc muốn cưới gấp cho hắn một người thê t.ử.
Nếu mai sau hắn không trở về, chí ít trong nhà vẫn có người lo hương khói, tảo mộ cho hắn.
Nếu trời cao thương xót, trước khi đi hắn có thể để lại chút huyết mạch, ấy đã là phúc lớn.
Dẫu chẳng có con, nhà họ Hoắc cũng cần một người trẻ tuổi chống đỡ cửa nhà, chăm nom hai lão nhân.
Hoắc lão gia bệnh nặng đã nhiều năm, quanh năm nằm liệt trên giường.
Hoắc lão phu nhân nghe tin con trai sắp ra trận, khóc đến tinh thần suy sụp, lúc sang nhà ta chỉ còn cố gượng một hơi mà chờ một lời đáp.
Cha ta nhìn chằm chằm túi bột mì đen kia, cổ họng liên tục chuyển động.
Dường như xuyên qua lớp bao vải, người đã nhìn thấy mấy chiếc màn thầu vừa hấp xong, còn nghi ngút khói.
Đôi mắt vàng đục của cha đầy tia m.á.u.
Sau cùng, người quay sang nhìn ta.
“Nha Nhi, con có bằng lòng không?”
Ta biết phải nói không bằng lòng thế nào đây?
Trong năm mất mùa ấy, để đổi lấy một miếng ăn, có người dắt cả nhà rời quê, lê lết dọc quan đạo xin ăn.
Có nhà vì muốn bớt một miệng ăn mà nhẫn tâm thiêu c.h.ế.t bé gái vừa chào đời.
Có lão nhân không muốn tranh lương với con cháu, lặng lẽ treo cổ trên xà nhà.
So với những con đường ấy, gả sang Hoắc gia đã là lựa chọn tốt nhất ta có thể có.
Trong lòng đã quyết, ta ngẩng đầu, bình tĩnh nói với cha nương.
“Con bằng lòng.”
Nương nghe xong như bị người ta rút hết xương cốt, bật khóc t.h.ả.m thiết.
“Con ta sao lại khổ đến thế này.”
“Nương sao có thể trơ mắt nhìn con vừa xuất giá đã phải chờ ngày làm quả phụ?”
Cha quay lưng đi, tấm lưng vốn đã còng lại càng cúi thấp.
Túi bột mì đen không lớn, nhưng dường như nặng đến ngàn cân, ép cong cả sống lưng người.
“Có phải thủ tiết cũng còn hơn để cả nhà cùng c.h.ế.t đói hay không?”
Ta bước tới đỡ Hoắc lão phu nhân đứng dậy.
“Mẹ, con theo mẹ về ngay bây giờ.”
Ta biết, nếu còn ở lại thêm một khắc, trong lòng cha nương sẽ lại bị dằn vặt thêm một khắc.
Chỉ cần ta rời đi, họ mới có thể ăn bữa cơm đổi bằng hôn sự của ta mà bớt đi vài phần tội lỗi.
Hoắc Viễn đã đứng trước cửa chờ sẵn.
Thấy ta dìu mẫu thân hắn trở về, hắn lập tức vào bếp lấy hai chiếc màn thầu bột đen to bằng nắm tay, còn nóng hổi, nhét vào tay ta.
Mùi bột mì thơm ấm xộc thẳng lên mũi khiến bụng ta đau thắt vì đói.
Ta cũng chẳng còn tâm trí giữ lễ nghi.
Ta đến đây vốn là vì miếng ăn cứu mạng này.
Chưa kịp bước qua cửa, ta đã ăn sạch hai chiếc màn thầu.
Hoắc Viễn lại bưng cho ta một bát nước nóng.
Ta uống cạn một hơi, đến lúc ấy mới cảm thấy thân thể lạnh cứng dần có lại chút hơi người.
Ba ngày tân hôn trôi qua rất nhanh.
Hoắc Viễn như muốn đem hết nỗi sợ hãi, bất an và lưu luyến trước khi lên chiến trường gửi vào những lần gần gũi ngắn ngủi ấy.
Ta không chống cự.
Ta đã nhận lương thực của nhà hắn, trở thành thê t.ử hắn, khi ấy ta nghĩ mình nên thuận theo như vậy.
Đến ngày xuất chinh, ta tiễn Hoắc Viễn lên gò đất ngoài thôn.
Trên gò lác đác vài nhà cũng đến tiễn người thân bị trưng binh.
Không ai có rượu tiễn hành.
Cũng chẳng nhà nào dư nổi chiếc bánh làm quà lên đường.
Chỉ có một khoảng tĩnh lặng nặng nề, tựa như tuyệt vọng đã bóp nghẹt tất cả tiếng nói.
Không biết ai khóc trước.
Một tiếng nức nở bật lên, rồi nhanh ch.óng kéo theo tiếng khóc của cả đám người.
Trương thẩm túm c.h.ặ.t vạt áo con trai, cổ họng nghẹn cứng, muốn khóc cũng khóc không thành tiếng.
Bên cạnh bà, đứa trẻ gầy nhẳng như mầm đậu níu lấy chân cha, ngẩng khuôn mặt hốc hác nhìn người lớn bằng đôi mắt trống rỗng.
Ta lấy từ trong áo ra một nút bình an, đặt vào lòng bàn tay Hoắc Viễn.
“Chàng phải sống mà trở về.”
Dưới chân gò, tiếng chiêng thúc quân đã vang lên từng hồi gấp gáp.
Hoắc Viễn nhìn ta thật lâu.
Ánh mắt ấy như muốn khắc cả khuôn mặt ta vào trí nhớ.
Sau cùng, hắn quay người, theo những người đồng hương khác bước nhanh xuống gò.
Ba ngày trước, hắn còn là tân lang của ta.
Ta từng nghĩ, nếu hắn bình an, hai chúng ta rồi sẽ sống một đời vợ chồng bình thường.
