Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 157:------

Cập nhật lúc: 01/01/2026 08:08

“Cầu lớn đại đội Lâm Hà nhà tôi, tại sao lại gọi là cầu Thán Sơn?” Hứa Kim Hổ vặn lại.

Đặt tên là "Cầu Thủy Phụ" thì càng không thích hợp.

Tóm lại, Hứa Kim Hổ nghe cái tên “Kim Hổ Đại Kiều” sao mà thuận tai, khí phách thế, hài lòng không để đâu cho hết.

Giang Thiên Vượng thì không chịu. Ban đầu ông còn ngượng ngùng đề xuất “Thiên Vượng Đại Kiều”, nhưng thấy Hứa Kim Hổ mặt dày như vậy, ông cũng không nhịn được nữa, đập bàn quát: “Thế thì thà gọi là ‘Thiên Vượng Đại Kiều’ còn hơn! Cái tên của tôi chẳng hay hơn cái tên ‘Kim Hổ’ của ông à?”

Hứa Kim Hổ lập tức như bắt được thóp đối phương, chỉ vào mũi Giang Thiên Vượng: “Đấy đấy, ông nhìn xem, lòi đuôi cáo ra rồi nhé! Cái gì mà cầu Ven Sông, cầu Thán Sơn, tôi thấy ông chỉ muốn lấy tên mình đặt cho cầu thôi!”

Hai người cãi nhau đến mức nước bọt b.ắ.n tung tóe vì cái tên cây cầu. Cuối cùng, ai cũng không thuyết phục được ai, đành phải thỏa hiệp đặt tên cầu là “Phượng Lan Kiều”.

Hứa Phượng Lan (tức Hứa Minh Nguyệt) là "đại tướng" dưới trướng Hứa Kim Hổ. Mấy năm nay ông thăng chức vù vù hầu như đều nhờ cô ở phía sau bày mưu tính kế. Hiện tại công xã Thủy Phụ hợp tác với Ngũ Công Sơn khai hoang hơn vạn mẫu ruộng tốt, lại nối liền hai bờ sông Đại Hà, đối với đại đội Lâm Hà và người dân phía nam sông Đại Hà, đây quả là công lao ngàn đời. Nếu không có gì bất trắc, cả hai ông sắp sửa được thăng chức lần nữa.

Hứa Kim Hổ coi Hứa Phượng Lan là cánh tay phải đắc lực, nhưng trong lòng Giang Thiên Vượng, Hứa Phượng Lan còn là chị vợ của con trai ông, cũng là người nhà.

Hơn nữa, phương án nối liền hai bờ sông và xây cầu chính là do Hứa Phượng Lan đề xuất. Cuối cùng, cái tên được chốt lại. Trên trụ đá đầu cầu khắc ba chữ lớn “Phượng Lan Kiều”, bên dưới ghi năm xây dựng và một bức phù điêu khắc hình hai mẹ con nắm tay nhau.

Nhiều người nghĩ rằng bức phù điêu hai mẹ con đó là Hứa Minh Nguyệt và A Cẩm. Chỉ có Hứa Minh Nguyệt biết, nhân vật trong tranh là nguyên chủ Hứa Phượng Lan và bé Đại Nha.

Đối với sự xuất hiện của bức phù điêu này trên trụ cầu, người dân đại đội Lâm Hà không ai có ý kiến gì. Nhiều người vẫn còn nhớ truyền thuyết Hứa Phượng Lan mẹ con là Hà Thần nương nương và Hà Thần đồng nữ. Tuy giờ ai cũng biết Hứa Minh Nguyệt là người bằng xương bằng thịt, không có phép hô mưa gọi gió, nhưng mọi người đều hiểu rõ những thay đổi của đại đội Lâm Hà hiện nay là do ai mang lại. Dù biết không phải thần thánh, nhưng nhiều người mê tín vẫn thầm coi cô như Hà Thần nương nương, cảm thấy có hình ảnh mẹ con cô trên trụ cầu là điềm lành.

Việc đặt tên “Phượng Lan Kiều” đối với Hứa Minh Nguyệt như trút bỏ được một gánh nặng trong lòng.

Sự xuất hiện của cô và A Cẩm, bề ngoài như thay thế cho mẹ con bà cô đoản mệnh, nhưng thực chất cũng là xóa nhòa sự tồn tại của họ. Đây là điều cô không muốn.

Cô biết ông nội vẫn luôn nhớ về mẹ con em gái ấy, và cô cũng vậy.

Sự tồn tại của “Phượng Lan Kiều” như một lời nhắc nhở với thế nhân rằng, trên đời này từng có một người phụ nữ số khổ tên là Hứa Phượng Lan!

* Keng! Keng! Keng!

Đoàn tàu hỏa vỏ xanh xình xịch tiến vào ga thành phố bên cạnh. Hứa Minh Nguyệt đã đến ga đón người từ sớm, ngồi trên chiếc ghế gấp mang theo. Bên cạnh, Hứa Phượng Phát giơ cao tấm biển gỗ hình chữ T, bên trên viết “Chào mừng thanh niên trí thức đến công xã Thủy Phụ”, trong đó bốn chữ “Công xã Thủy Phụ” được viết đặc biệt to.

Nhìn dòng người dần đi ra, Hứa Minh Nguyệt thỉnh thoảng lại dùng tiếng phổ thông cao giọng gọi: “Thanh niên trí thức về công xã Thủy Phụ tập hợp ở đây!”

Hứa Phượng Phát nhìn dáng vẻ ung dung của chị, vốn ngại mở miệng nói tiếng phổ thông, nhưng bị Hứa Minh Nguyệt lôi kéo, cũng đành ngượng ngùng dùng chất giọng phổ thông pha tiếng địa phương hô to: “Thanh niên trí thức công xã Thủy Phụ tập hợp ở đây!”

Mới hô được một câu, mặt cậu đã đỏ bừng, cảm thấy xấu hổ vô cùng.

Nếu không phải bốn năm nay thường xuyên nghe chị và A Cẩm nói chuyện bằng tiếng phổ thông với anh rể một cách tự nhiên, không chút ngượng ngùng, thì cậu cũng chẳng dám mở miệng.

Ở trong thôn, ai mà học đòi nói tiếng phổ thông lơ lớ là bị cả làng cười cho thối mũi. Trừ chị và A Cẩm ra, dân làng đều tưởng Mạnh Phúc Sinh là người nơi khác, không nói tiếng phổ thông thì anh không hiểu, nên dần dần cũng quen với việc chị và cháu nói tiếng phổ thông. Chủ yếu là vì Hứa Minh Nguyệt có thể chuyển đổi mượt mà giữa tiếng phổ thông với Mạnh Phúc Sinh và tiếng địa phương với dân làng ngay lập tức.

Vốn dĩ việc đón thanh niên trí thức này không đến lượt Hứa Minh Nguyệt - một cán bộ bậc 23 - phải làm. Nhưng cả thôn chỉ có nhà cô biết nói tiếng phổ thông. Lần này thanh niên trí thức toàn đến từ các thành phố lớn trên cả nước, nếu phái người chỉ biết nói tiếng địa phương đi đón thì Giang Thiên Vượng không yên tâm, nên mới nhờ hai chị em Hứa Minh Nguyệt đang ở Cửa Sông Bồ đi giúp.

Nông trường Cửa Sông Bồ gần ga tàu hỏa thành phố, Hứa Minh Nguyệt lại có thuyền, đón người rất tiện. Còn Hứa Phượng Phát thuần túy là bị cô lôi đi làm cu li.

Bên cạnh còn có người của các công xã khác đến đón thanh niên trí thức. Vốn họ chỉ đứng tay không ngơ ngác giữa đám đông, nghe tiếng Hứa Minh Nguyệt gọi và thấy tấm biển gỗ to đùng trên tay Hứa Phượng Phát, họ mới vỗ trán: “Sao mình không nghĩ ra làm cái biển nhỉ?”

Tuy người biết chữ trong đại đội họ không nhiều, nhưng cũng có vài người biết. Có cái biển thì đỡ phải gào khản cả cổ.

Họ cũng muốn học Hứa Minh Nguyệt dùng tiếng phổ thông gọi người, nhưng ngặt nỗi không biết nói, đành dùng tiếng địa phương hét to những câu tương tự.

Vùng này "mười dặm khác giọng", xung quanh chỉ có thành phố bên cạnh là có ga tàu, các huyện bên dưới không có, nên thanh niên trí thức về nông thôn đều phải đến đây đón. Nhất thời bên ngoài ga tàu hỏa vang lên đủ loại tiếng địa phương hỗn loạn. Đừng nói thanh niên trí thức nơi khác, ngay cả người bản địa như Hứa Minh Nguyệt muốn phân biệt ai đến từ công xã nào trong mớ âm thanh hỗn độn này cũng chẳng dễ dàng.

Một lát sau, từng tốp thanh niên nam nữ vác bao lớn bao nhỏ hành lý lục tục bước ra khỏi ga. Không ngoại lệ, tất cả đều bị thu hút bởi giọng nói lanh lảnh của Hứa Minh Nguyệt và hướng về phía cô.

“Tôi là thanh niên trí thức về đội sản xuất Ngũ Công Sơn, xin hỏi công xã Ngũ Công Sơn ở đâu ạ?”

“Tôi về công xã Lạc Sơn...”

“Tôi về công xã Giang Vu...”

Trong chốc lát, mọi người đều chen chúc vây quanh Hứa Minh Nguyệt và Hứa Phượng Phát.

Hứa Minh Nguyệt đành giơ cao tấm biển gỗ: “Ở đây là công xã Thủy Phụ! Ai về công xã Thủy Phụ thì tập hợp ở đây!”

Một nam thanh niên cao ráo nhìn thấy tấm biển trên tay Hứa Phượng Phát, bước tới hỏi bằng giọng phổ thông pha chút khẩu âm địa phương nhưng chuẩn hơn Hứa Phượng Phát nhiều: “Tôi là thanh niên trí thức về đại đội Hòa Bình công xã Thủy Phụ, cậu đến đón chúng tôi phải không?”

Sau khi Hứa Phượng Phát gật đầu xác nhận, cậu thanh niên chừng 18-19 tuổi đó đặt bao tải vải bố trên vai xuống, đứng cạnh Hứa Phượng Phát. Mấy thanh niên nam nữ phía sau cậu ta cũng đứng lại.

Phía sau còn có mấy cô gái đang chật vật xách hai túi đồ nặng, gọi Hứa Phượng Phát: “Các cậu ai qua giúp tôi một tay với, nặng quá, tôi xách không nổi!”

Hứa Phượng Phát là người thật thà, nghe vậy vội chạy qua giúp vác một bao tải ra lề đường. Cậu định giúp cô ấy vác một cái, cái còn lại cô ấy tự xách, ai ngờ đặt bao tải xuống quay lại vẫn thấy cô gái đứng yên đó chờ cậu vác nốt.

Hứa Phượng Phát định quay lại giúp tiếp thì Hứa Minh Nguyệt nhìn thấy "bà trẻ" (vợ tương lai của Phượng Phát) trong đám đông. Cô vội kéo áo em trai, chỉ vào một cô bé tóc xoăn tự nhiên tết hai b.í.m, nói: “Túi của đồng chí nữ kia trông cũng nặng đấy, em qua giúp một tay đi.”

Hứa Phượng Phát ngớ người, nhìn theo hướng chỉ tay mới thấy cô gái đứng cuối đám đông. Cậu liền đi qua xách tay nải giúp cô ấy.

Vừa nhấc lên, Hứa Phượng Phát đã ngạc nhiên vì nó nhẹ hơn tưởng tượng, bên trong có vẻ không nhiều đồ, nhưng cậu không biểu lộ ra mặt, xách đồ giúp cô ấy đi sang bên này.

Cô gái được giúp đỡ cũng sững sờ, không ngờ có người giúp mình. Vì đồ không nặng nên cô còn đưa tay định giành lại, nói bằng giọng địa phương đặc sệt: “Tôi xách được mà.”

Người từ trong ga vẫn ùn ùn đổ ra. Ngồi trên ghế gấp, Hứa Minh Nguyệt giơ cao tấm biển gỗ, chốc chốc lại hô: “Thanh niên trí thức về công xã Thủy Phụ tập hợp ở đây!”

Lại có rất nhiều người đổ xô về phía Hứa Minh Nguyệt. Nghe thấy có người hỏi Ngũ Công Sơn, cô túm ngay người của công xã Ngũ Công Sơn kéo ra trước mặt: “Ngũ Công Sơn ở bên này! Ai về công xã Ngũ Công Sơn thì sang chỗ anh này xếp hàng!”

Tiếng địa phương của công xã Ngũ Công Sơn và Thủy Phụ phát âm gần giống nhau. Người của công xã Ngũ Công Sơn đều biết Hứa Minh Nguyệt, vừa đến ga đã chào hỏi cô. Khổ nỗi họ không biết nói tiếng phổ thông, gào khản cổ bên cạnh mà đám thanh niên trí thức chẳng hiểu mô tê gì.

Bên cạnh còn có người của các công xã khác cũng đang hò hét bằng đủ thứ tiếng địa phương, thanh niên trí thức nghe như vịt nghe sấm. Hứa Minh Nguyệt đành phải làm phiên dịch viên bất đắc dĩ. Nhưng cô không biết chính xác họ nói gì để dịch sang tiếng phổ thông, bèn lấy vở và b.út dạ ra. Cô hỏi người của các công xã, rồi viết tên công xã tương ứng lên giấy bằng b.út dạ đen, bảo họ giơ cao lên đầu.

Cây b.út dạ này cô lấy từ bộ b.út vẽ của A Cẩm trong xe, nét to, đậm và rõ ràng, giúp đám thanh niên trí thức đang ngơ ngác dễ dàng nhận biết hơn hẳn.

Thanh niên trí thức tuy không hiểu tiếng địa phương nhưng đọc được chữ, tìm đúng tên công xã mình cần về là xong.

Đến khi tất cả người đón đều tìm được đúng nhóm của mình, Hứa Minh Nguyệt mới lau mồ hôi trán, quay lại vẫy gọi nhóm thanh niên trí thức về công xã mình, giơ cao tấm biển: “Công xã Thủy Phụ theo tôi sang bên này!”

Đợi mười mấy thanh niên nam nữ tay xách nách mang đi theo mình đến một góc yên tĩnh, Hứa Minh Nguyệt mới đứng lên bồn hoa, cầm sổ điểm danh: “Bây giờ tôi bắt đầu điểm danh, ai có tên thì hô 'có'! Diêm Xuân Hương!”

Không thấy ai trả lời, Hứa Minh Nguyệt hô lại lần nữa: “Diêm Xuân Hương! Diêm Xuân Hương có đây không?”

Cô gái nhỏ đứng cuối hàng lúc này mới giơ tay, cao giọng hơn một chút: “Có!”

Tàu đến thành phố lúc 5 giờ chiều, lúc này trời đã chập choạng tối. Nhờ ánh sáng nhập nhoạng, Hứa Minh Nguyệt nhìn kỹ cô gái tên Diêm Xuân Hương, mới biết hóa ra tên thật của "bà trẻ" tương lai là Diêm Xuân Hương.

Hứa Minh Nguyệt dừng lại một chút rồi tiếp tục đọc tên: “La Dụ Nghĩa!”

Mãi đến khi điểm danh xong tất cả những người về công xã Thủy Phụ, Hứa Minh Nguyệt lại như hướng dẫn viên du lịch, giơ cao tấm biển gỗ: “Người của công xã Thủy Phụ đi theo tôi, lối này!”

Bên ngoài ga có rất nhiều xe đang chờ: xe bò, xe lừa, máy kéo. Duy chỉ có công xã Thủy Phụ và công xã Ngũ Công Sơn là không có bất kỳ phương tiện giao thông nào.

Nhóm thanh niên trí thức đi theo họ ra đến lề đường, thấy người của các công xã khác đều có xe bò, máy kéo chở hành lý, trong khi hai người đi đón của công xã Thủy Phụ và Ngũ Công Sơn lại tay không, chẳng có xe cộ gì, mặt ai nấy đen như đáy nồi.

Cô gái lúc nãy nhờ Hứa Phượng Phát vác hành lý không kìm được, giọng đỏng đảnh: “Làm cái gì thế này? Đi đón người mà đến cái xe bò cũng không có, nhiều hành lý thế này bảo tôi xách kiểu gì?”

Nói rồi, giọng cô ta bắt đầu nức nở.

Phải về nông thôn cắm đội đã tủi thân lắm rồi, đến nơi lại chẳng có chỗ để hành lý, dù cô ta có ngang ngược đến mấy thì lúc này cũng thấy tủi thân muốn khóc.

Không phải Hứa Minh Nguyệt không muốn mang phương tiện đi đón, mà là do giao thông quá bất tiện.

Lúc này, tỉnh lộ nối công xã Thủy Phụ với thành phố bên cạnh (chính là con đê đang được xây dựng ở thời đại này) vẫn chưa thông! Chỉ có đường thủy, không có đường bộ. Mà đi đường thủy thì thuyền cũng không vào được ga tàu hỏa, phải đậu ở bến tàu.

MonkeyD

Email: [email protected]

Liên hệ hỗ trợ: https://www.fb.com/monkeyd.vn

DMCAPROTECTED

Mọi thông tin và hình ảnh trên website đều được bên thứ ba đăng tải, MonkeyD miễn trừ mọi trách nhiệm liên quan đến các nội dung trên website này. Nếu làm ảnh hưởng đến cá nhân hay tổ chức nào, khi được yêu cầu, chúng tôi sẽ xem xét và gỡ bỏ ngay lập tức. Các vấn đề liên quan đến bản quyền hoặc thắc mắc khác, vui lòng liên hệ fanpage: MonkeyD.