Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 187:------
Cập nhật lúc: 02/01/2026 12:01
Diêm Xuân Hương ngồi co ro trên tảng đá thấp, cặm cụi nhóm lửa. Thân hình nhỏ bé toát lên vẻ quật cường. Cô không nhìn La Dụ Nghĩa hay Diệp Điềm, chỉ cúi đầu nói:
“Muốn nấu miến thì các người tự lấy của mình ra mà nấu. Lương thực của tôi còn chẳng đủ ăn, lại đang nợ đại đội bộ một đống nợ. Đừng có tính cả phần tôi vào.”
Thẩm Chí Minh nhìn hai người kia, rồi lại nhìn Diêm Xuân Hương đang lúi húi nhóm bếp, cũng vội vàng hùa theo: “Tôi cũng đang mang nợ đây, tôi cũng không có lương thực đâu.”
Diệp Điềm có chút rối rắm, đưa mắt nhìn La Dụ Nghĩa đầy ái ngại.
Tuy gia cảnh khá giả, người nhà cũng đưa cho không ít tiền, lại chẳng phải người keo kiệt, nhưng cô vốn lười làm lại tiêu pha rộng rãi. Ăn không quen cơm độn rau dại hàng ngày, cô đã mua nợ của đại đội không ít miến, gạo tẻ và bột mì, nên giờ cũng chẳng dám tỏ ra giàu có.
Lý do khiến cô lấn cấn là vì từ lúc đại đội Lâm Hà xây trại vịt, cô thường xuyên trốn việc ra đó chơi, thấy người ta cho vịt ăn bèo tây (lục bình). Hóa ra thứ “đặc sản” mà Bí thư Giang nói đến, thực chất là thức ăn cho vịt, cho heo.
Cô nhìn La Dụ Nghĩa với ánh mắt “một lời khó nói hết”.
La Dụ Nghĩa tuy không biết chuyện bèo tây là thức ăn gia súc ở đây, nhưng họ đến Lâm Hà cũng đã lâu, thấy Mạnh Phúc Sinh dẫn dắt mọi người nuôi trồng bèo tây khắp các mương rãnh, ruộng lúa. Anh chưa từng thấy người dân ăn thứ này bao giờ, chỉ thấy lũ trẻ lùa vịt xuống nước cho chúng rỉa ăn. Ấn tượng đầu tiên của anh về bèo tây: Đó không phải đồ cho người ăn.
Nhưng vốn dĩ anh chỉ định làm theo chủ nghĩa nhân đạo. Một bó miến chưa ngâm trông thì ít, chỉ đủ hai người ăn, nhưng nấu lên thêm nhiều nước thì mười mấy người húp cũng cầm hơi được. Tuy nhiên, thấy Diêm Xuân Hương và Thẩm Chí Minh kiên quyết giữ lương thực của mình, anh cũng đành thôi. Dù sao lương thực thời này quý như vàng.
Nghĩ ngợi một lát, La Dụ Nghĩa đi hỏi Giang Kiến Quân: “Thư ký, mười mấy người mà chỉ nấu mỗi bèo tây thôi thì có sợ không đủ no không?”
Giang Kiến Quân vốn chẳng muốn quan tâm đến đám người này. Nhưng nhìn bộ dạng héo hon, bốc mùi chua loét của họ, ông suy tính một chút rồi phất tay bảo người làng Giang: “Đi lấy hai cái bánh bã khoai lang lại đây.”
Bánh bã khoai lang, nói trắng ra là phần bã còn lại sau khi lọc lấy bột khoai vào cuối năm ngoái. Nó cũng giống như bã đậu nành vậy. Trong những năm thiên tai mất mùa, thứ bã này là đồ cứu mạng quý giá, bao nhiêu người muốn ăn cũng không có.
Hiện tại qua thời đói kém, lương thực dồi dào hơn, bánh bã khoai lang vẫn được nhiều nhà giữ lại làm lương thực dự phòng. Người ta nặn bã thành hình cái bánh nướng lớn rồi phơi khô, cất đi. Nhà nào khá giả thì dùng làm thức ăn cho gà vịt, heo. Nhà nào ít lao động, thiếu công điểm, thiếu ăn thì lôi ra ăn chống đói.
Chỉ có điều, mùa làm bột khoai thường rơi vào mùa đông nông nhàn. Vùng này gần sông, không khí ẩm ướt, mùa đông lại mưa phùn gió bấc, ít nắng. Bánh bã khoai lang phơi không được khô hẳn, lại phải ủ trong sọt tre để tránh chuột, nên mười cái thì có đến chín cái rưỡi bị mốc đen mốc đỏ.
Người địa phương chẳng bận tâm chuyện nấm mốc. Họ cứ hong khô, đợi khi nào nắng to thì mang ra phơi lại. Họ quan niệm phơi nắng rồi thì nấm mốc cũng ăn được tất. Trước khi nấu, chỉ cần dùng bàn chải cọ sạch lớp mốc bên ngoài, bẻ vụn rồi nấu thành cháo. Cháo bã khoai lang đặc sánh hơn cháo rau dại nhiều, lại có mùi thơm đặc trưng của khoai lang lên men.
Người được sai việc nhanh nhẹn chạy vào trung viện đại đội bộ, bám vào cột gỗ leo thoăn thoắt lên tầng hai. Tầng hai là gác xép, cầu thang được khóa kín trong một căn phòng riêng, chỉ khi xuất kho lương thực mới mở. Rất nhiều người thậm chí không biết sự tồn tại của căn gác này.
Người nọ leo lên rồi nhanh ch.óng tụt xuống, giắt lưng quần hai cái bánh bã khoai lang to, nhẹ bẫng và khô khốc, đưa cho Diêm Xuân Hương đang đun nước.
Cả nhóm tò mò cầm lấy hai cái bánh xám xịt, không biết là thứ gì. Người đưa bánh buông một câu cụt lủn: “Nè, nấu chung với bèo tây mà ăn.”
Diệp Điềm nhìn thấy đốm mốc đen trên bánh thì hét toáng lên: “Thứ này mốc hết rồi, ăn sao được?”
Người kia đáp bằng tiếng địa phương: “Chúng tôi ăn bao nhiêu năm nay có c.h.ế.t đâu, nấm mốc nấu chín lên là ăn được hết!” Tiếc là Diệp Điềm chẳng hiểu mô tê gì.
La Dụ Nghĩa và Thẩm Chí Minh thấy có thêm lương thực, bèn xách giỏ tre ra mương vớt một giỏ bèo tây rửa sạch mang về.
Nhìn đống nguyên liệu, cả đám ngơ ngác không biết nấu thế nào. Cuối cùng, Diêm Xuân Hương – người có kinh nghiệm nhất – quan sát thấy bèo tây cũng giống các loại rau khác, bèn quyết định bẻ vụn hai cái bánh bã khoai cho vào nồi nước sôi trước. Dùng muôi tre khuấy đều, chỉ chốc lát sau, nồi nước đã bốc lên mùi thơm ngai ngái của khoai lang lên men.
Mười mấy gã Hồng Tiểu Binh đang nằm liệt trong bếp, ngửi thấy mùi khoai lang nấu chín thì bụng sôi ùng ục, không nhịn được mà nhổm dậy muốn ra ngoài kiếm ăn.
Đợi cháo bã khoai chín nhừ, Diêm Xuân Hương mới đổ cả giỏ bèo tây vào, khuấy đều. Thứ rau này cũng như rau dại, đảo qua vài cái là chín nhũn, tan vào trong cháo khoai, tạo thành một hỗn hợp xanh lè, nhớt nhát. Trông nó chẳng giống cháo chút nào, mà giống hệt nồi t.h.u.ố.c độc của mụ phù thủy trong truyện cổ tích phương Tây.
Nhưng đám Hồng Tiểu Binh nào còn tâm trí đâu mà chê bai hay sợ nóng. Ngửi thấy mùi thức ăn, họ lao ra, vơ lấy mấy cái bát tre để dưới mái hiên, tranh nhau múc cháo uống.
Diệp Điềm kêu lên: “Ơ kìa, bát của tôi...”
Vô ích. Một kẻ đã chộp lấy cái bát của cô, múc đầy một bát cháo xanh lét, rồi bất chấp nóng bỏng mà húp lấy húp để.
Một hương vị khó tả lan tỏa trong khoang miệng: Vừa đắng, vừa chát, lại có cảm giác nhớt nhớt như nước mũi. Vừa nuốt miếng đầu tiên, họ đã muốn nôn thốc nôn tháo, nhưng cái bụng đói cồn cào lại ép họ phải nuốt xuống miếng thứ hai.
Bát cháo xanh lè nhanh ch.óng cạn đáy. Chẳng mấy chốc, nồi cháo sạch banh. Tổng cộng chỉ có một nồi đất, chia cho mười mấy người, mỗi người cũng chỉ được một bát con lưng lửng.
Uống xong, Diệp Điềm nhìn cái bát tre dính đầy thứ nước xanh xanh nhớt nhớt mà bọn họ vừa dùng, bĩu môi đầy ghét bỏ, quyết định vứt luôn cái bát, chẳng thèm đòi lại.
Được bát cháo loãng lót dạ, đám Hồng Tiểu Binh hồi lại chút sức lực. Cái bụng vừa đỡ đói thì cái thói hống hách lại trỗi dậy, muốn gây sự. Nhưng nhìn đám dân làng vây quanh đông đúc, cơn giận trong lòng họ đành phải nuốt ngược trở vào.
Trước đây, khi đi đến các thôn lớn, chỉ cần họ hô khẩu hiệu là dân làng sợ hãi im thin thít. Kể cả có nơi phản kháng, họ chỉ cần tóm lấy một người giàu nhất, chụp cho cái mũ “phú nông”, đ.á.n.h đập phê bình một trận là dân làng lập tức xa lánh người đó, thậm chí còn hùa theo họ đ.á.n.h người đến sứt đầu mẻ trán. Chiêu này lần nào cũng linh nghiệm.
Nhưng đến cái thôn Lâm Hà này thì khác hẳn. Họ vừa mới phá cửa nhà địa chủ, định lôi điển hình ra đấu tố thì đã bị một đám đàn bà cầm đòn gánh, chày gỗ đ.á.n.h cho tơi bời. Sau đó là đám đàn ông hôi hám từ đâu ùa về, đ.á.n.h còn ác hơn. Đánh xong, chẳng thèm nghe họ nói nửa lời, trói gô lại ném xuống hầm nhốt hai ngày, bỏ mặc sống c.h.ế.t.
Nhìn những ánh mắt như hổ đói rình mồi xung quanh, gã thanh niên cầm đầu định mở miệng đe dọa Giang Kiến Quân, yêu cầu thả người.
Hắn vừa mở miệng, Giang Kiến Quân đã nhíu mày. Nghĩ đến việc các chuyên gia bị dọa ốm làm chậm tiến độ xây trạm thủy điện, ông bực mình phất tay với dân làng: “Nếu rảnh rỗi thì lôi cổ bọn này đi gánh đá đi, những chuyện khác đợi Đại Lan T.ử về rồi tính.”
Vốn định đưa bọn họ đi nông trường Cửa Sông Bồ cải tạo, nhưng Hứa Minh Nguyệt chưa đến, ông cũng không tiện tự ý đưa đi. Thế là đám thanh niên trí thức trẻ tuổi, bụng mới chỉ có tí cháo loãng, lại bị trói chân từng người một, bị áp giải lên núi.
Họ ngơ ngác không hiểu gì, cứ thế bị lùa đến mỏ đá.
Con đường vào núi toàn là đàn ông. Do đại đội Lâm Hà đang xây đê và trạm thủy điện nên cần lượng lớn đá hộc và đá dăm. Người trong núi đất ít, lương thực thiếu, nên quanh năm họ gánh đá xuống Lâm Hà đổi lấy lương thực. Trên đường tấp nập những gã đàn ông lực lưỡng gánh đá, đẩy xe cút kít.
Dân miền núi càng sâu thì tư tưởng trọng nam khinh nữ càng nặng. Sinh con trai thì giữ lại, sinh con gái thì... có nhà giống như nhà chồng chị hai của Vương Căn Sinh, sinh ra là chôn ngay giữa đường cái cho ngàn người giẫm vạn người đạp để không dám đầu t.h.a.i lại nữa. Những nhà "nhân từ" hơn nuôi con gái lớn lên thì cũng không muốn gả vào trong núi khổ cực, mà tìm cách gả xuống các thôn ven sông như Lâm Hà, Hòa Bình, Kiến Thiết, Thạch Giản – những nơi có ruộng, có sông, đời sống khấm khá hơn nhiều.
Hệ quả là trong núi thiếu phụ nữ trầm trọng. Đám trai tráng gánh đá nhìn thấy nhóm nữ thanh niên trí thức trẻ trung, mắt gã nào gã nấy sáng lên như đèn pha, đi qua cả đoạn xa vẫn còn ngoái cổ lại nhìn chằm chằm.
Có kẻ gan to, thấy người làng Giang trói chân, áp giải đám thanh niên trí thức, liền đặt gánh xuống lân la hỏi dò: “Này, mấy cô em kia phạm tội gì thế? Đi đâu đấy?”
Vừa nói, đôi mắt hau háu của gã vừa quét dọc quét ngang trên người mấy cô gái.
Đám nữ thanh niên trí thức sợ hãi co rúm lại, nấp vội sau lưng các nam thanh niên cùng đoàn. Lúc này, đám con trai cũng tỏ ra có chút khí phách nam nhi, đứng ra che chắn cho các bạn nữ, nhưng trong lòng cũng run sợ nhìn người làng Giang. Họ không hiểu tiếng địa phương, cứ tưởng dân làng định bán họ vào rừng sâu.
Người làng Giang thấy bọn họ sợ hãi, bèn đứng chắn trước mặt, cau mày quát bọn người miền núi: “Có phạm tội thì cũng là đưa đi Cửa Sông Bồ cải tạo lao động, liên quan đếch gì đến các người? Đừng có mà nhìn láo liên! Nông trường Cửa Sông Bồ có người gánh đá sáu bảy năm chưa được thả về đâu đấy, các người cũng muốn vào đó gánh đá à?”
Nói xong, sợ chưa đủ đô, người làng còn bồi thêm một câu dọa nạt: “Mở to mắt ra mà nhìn! Chủ nhiệm Hứa ở Cửa Sông Bồ ghét nhất là chuyện quấy rối phụ nữ. Nếu để Chủ nhiệm biết được, bm cô ấy trị cho cái tội lưu manh, cho ăn kẹo đồng bây giờ!”
Nghe nhắc đến nữ Chủ nhiệm Hứa ở Cửa Sông Bồ, đám đàn ông gánh đá rùng mình, vội thu lại ánh mắt càn rỡ, kẽo kẹt gánh đá đi thẳng.
Gánh đá thuê cho mình và đi gánh đá cải tạo ở Bồ Cửa Sông là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Làm cho mình thì mệt đâu nghỉ đó, thích thì làm không thích thì nghỉ vài ngày. Nhưng rơi vào tay "nữ sát tinh" ở Bồ Cửa Sông thì khác, nhẹ thì giam một năm nửa năm, nặng thì sáu bảy năm chưa thấy ngày về. Có lời đồn rằng có người gánh đá đến c.h.ế.t, xác bị chôn làm vật tế dưới chân đê, nghe mà rợn tóc gáy.
Sở dĩ người ta phân biệt nam chủ nhiệm và nữ chủ nhiệm là vì Bồ Cửa Sông từng có hai đời chủ nhiệm. Ai chẳng biết nam chủ nhiệm cũ chính là Hứa Kim Hổ của đại đội Lâm Hà – người đ.á.n.h người tuy hung nhưng ít quan tâm chuyện nam nữ. Còn cái lệ trừng trị tàn nhẫn những kẻ quấy rối phụ nữ là do vị nữ chủ nhiệm sau này đặt ra.
Ai cũng biết bà ấy xuất thân là chủ nhiệm hội phụ nữ, cực kỳ bênh vực phái yếu. Chính bà ấy là người đứng sau xúi giục Hứa Kim Hổ chuyên đi bắt những kẻ đ.á.n.h vợ, ức h.i.ế.p phụ nữ về Bồ Cửa Sông làm cu li! Bà ấy luôn lấy cớ Bồ Cửa Sông thiếu người gánh đá, mà người lương thiện thì không nỡ bắt, nên cứ nhè vào đám đàn ông tồi tệ mà bắt!
