Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 192
Cập nhật lúc: 03/01/2026 08:00
Hứa Minh Nguyệt cũng cười tủm tỉm: “Vậy các cậu cứ từ từ mà ăn, tôi về trước đây. Tối nay vất vả cho các anh em ở lại canh chừng, đừng để người chạy thoát.”
Giọng cô không cao không thấp, chẳng biết là nói cho đám dân binh nghe hay cố tình để đám Hồng Tiểu Binh nghe thấy: “Thật ra người chạy mất cũng chẳng quan trọng, nhưng nếu tối nay có ai bị bầy sói ăn thịt thì phiền phức lắm đấy!”
Mấy tay Hồng Tiểu Binh đang ăn cơm, trong đầu còn nhen nhóm ý định bỏ trốn, nghe vậy liền rùng mình, ý nghĩ chạy trốn tắt ngấm.
Đám thanh niên trí thức bị điều về cắm đội ở công xã Ngũ Công Sơn này đêm nào cũng phải nghe tiếng sói tru mới ngủ được. Tại đại đội nơi họ cắm chốt, đêm nào bầy sói cũng mò đến "ghé thăm", không trộm gà thì cũng trộm heo, trộm bò nuôi theo chỉ tiêu của đại đội. Dù chuồng trại đã được gia cố chắc chắn, nhưng đêm xuống họ vẫn nghe rõ tiếng kêu gào t.h.ả.m thiết đầy kinh hãi của đám gia súc.
Người của đại đội bộ nghe tiếng heo bò kêu cứu cũng chẳng dám ra ngoài, cứ để mặc chúng kêu gào suốt đêm. Có khi sói còn cào móng vào cửa sân phơi lúa, sáng hôm sau dậy xem thì thấy trên cửa gỗ đầy rẫy vết vuốt cào.
Nơi này thật sự có bầy sói!
Hứa Minh Nguyệt xách theo cái chậu tráng men và liễn sành về nhà. Khó khăn lắm cô mới có lúc rảnh rỗi ngồi xuống cùng A Cẩm và Mạnh Phúc Sinh ăn một bữa cơm tối yên bình và thịnh soạn.
Đặc biệt là A Cẩm, hiện tại đã hơn chín tuổi. Ban ngày con bé theo Mạnh Phúc Sinh và thầy Trịnh đi học ở Cửa Sông Bồ, vừa tan học là phóng như bay xuống sông chẳng khác nào phạm nhân được xả hơi.
Con bé thích bơi lội, lại chẳng sợ nước. Sông ngòi ở đây không giống hồ bơi, bên trong đầy đài sen, củ ấu, tôm cá, cua ốc – toàn là những món ăn vặt xa xỉ với trẻ con thời này. Suốt ngày con bé dẫn theo Hứa Tiểu Vũ, cầm cái vợt lưới Hứa Minh Nguyệt làm cho, còn Tiểu Vũ thì xách xô, hai đứa cứ thế mò tôm bắt cá dưới sông.
A Cẩm không ăn được cá, nhưng biết mẹ thích ăn cua nên ngày nào cũng chăm chỉ bắt về để hiếu kính "lão mẫu thân"!
Khổ nỗi bảo bôi kem chống nắng thì không chịu, bảo đội mũ cũng không nghe. Cô nhóc tám chín tuổi mặt đen nhẻm, sắp đuổi kịp màu da của mẹ sau đợt huấn luyện quân sự, cả người phơi nắng thành màu mật ong. Nhất là khi mặc bộ đồ bơi tay lỡ quần ngố, đến tối tắm rửa cởi ra, nguyên hình bộ đồ bơi trắng bóc in hằn trên da thịt trông vô cùng hài hước.
Cơm nước xong xuôi, cả nhà nằm trong căn phòng đã được bịt kín lưới chống muỗi ở bốn phía cửa sổ, ch.óp mũi thoang thoảng mùi hương thanh nhã của cỏ nghể và quả vải, cuối cùng cũng có một giấc ngủ ngon.
Mấy ngày nay vì lo Vương Căn Sinh không biết lúc nào sẽ đến đại đội Lâm Hà quấy rối, Hứa Minh Nguyệt đi sớm về khuya, lại phải huấn luyện cùng dân binh Cửa Sông Bồ, rồi lo nhiệm vụ sản xuất và chuyện xây trại heo, cô chưa có lấy một giấc ngủ trọn vẹn. Đêm nay về nhà mình, cuối cùng cũng được ngủ thẳng giấc.
Chỉ là thời tiết nóng quá, giá mà Mạnh Phúc Sinh nằm bên cạnh đừng có "quấn người" như thế thì tốt hơn.
Trời nóng thế này, thật sự chỉ muốn lăn ra ngủ, chẳng muốn làm gì cả!
Ngày hôm sau, đám thanh niên trí thức vẫn bị lùa lên núi nhặt đá, xúc đá, đại đội Lâm Hà chẳng có vẻ gì là muốn thả bọn họ đi.
Bọn Vương Căn Sinh bị nhốt dưới hầm ở đại đội Lâm Hà suốt hai ngày, cũng bị bỏ đói đúng hai ngày. Đến sáng ngày thứ ba, bọn họ mới được lôi ra khỏi cái hầm tối tăm ấy.
Hơn ba mươi gã Hồng Tiểu Binh người ngợm bẩn thỉu, hôi hám, so với đám thanh niên trí thức đợt đầu bị nhốt dưới hầm đất thì độ bẩn và mùi hôi chỉ có hơn chứ không kém.
Lẽ ra lúc bọn Vương Căn Sinh gào thét dưới hầm, đám thanh niên trí thức ở bên trên phải nghe thấy mới đúng. Nhưng tiếc là khu nhà này quá rộng, nhà bếp lại nằm tít sâu trong sân trong cùng, còn đám tiểu binh kia tối ngủ ở mấy gian nhà bỏ hoang bên ngoài, cách nhau tận hai cái sân và hai lớp cổng lớn.
Ban ngày làm việc quần quật mệt rã rời, tối đến chui vào mấy gian nhà trống, dù không có giường, chỉ nằm trên mấy tấm chiếu cói rách nát trải dưới đất, họ vẫn ngáy vang trời. Vốn là thanh niên trí thức đi cắm đội ở vùng núi, họ đã quen với tiếng sói tru, tiếng heo bò kêu t.h.ả.m thiết hay tiếng móng vuốt cào cửa ban đêm. Chút tiếng kêu yếu ớt vọng ra từ hầm bếp phía sau đối với họ còn chẳng to bằng tiếng ếch nhái kêu ộp oạp bên ngoài.
Phía các cô gái cũng vậy, bị nhốt dưới hầm đất hai đêm không ngủ được, đêm nay khó khăn lắm mới được giấc yên ổn, ai còn hơi sức đâu mà để ý tiếng kêu cứu xa xăm vọng lại.
Hơn nữa, bọn Vương Căn Sinh gào thét bằng tiếng thổ ngữ địa phương, đám thanh niên trí thức này nghe cũng chẳng hiểu gì.
Đến sáng ngày thứ tư, khi bọn Vương Căn Sinh được lôi ra khỏi hầm bếp, thì đám thanh niên trí thức đến trước đó đã bị Giang A Tam lùa lên núi tiếp tục nhặt đá.
Từ đầu đến cuối, chỉ có cô thanh niên trí thức bị thương ở chân là còn ở lại đại đội bộ.
Chỉ có điều cô ấy bị nhốt trong phòng, một ngày chỉ có một bữa canh miến lót dạ, lại không hiểu tiếng địa phương bên ngoài. Thế nên khi bọn Vương Căn Sinh bị lôi ra, cô ấy nhìn qua cửa sổ thấy một đám người hôi hám bẩn thỉu cũng không nhận ra đó chính là những thành viên Ủy ban Cách mạng Ngũ Công Sơn – những kẻ từng đến đấu tố thư ký Đinh ở đại đội Thạch Giản, và giờ lại đến Lâm Hà để đấu tố Hứa Minh Nguyệt cùng Giang Kiến Quân.
Nhất là mấy kẻ cầm đầu, mặt mũi sưng vù đỏ gay, có hai kẻ trên mặt còn nổi đầy bọng nước, nhìn sần sùi như da cóc ghẻ, trông phát khiếp.
Vương Căn Sinh bị nhốt hai ngày hai đêm, ánh mắt oán độc nhìn đám người đại đội Lâm Hà đang canh giữ mình. Trong lòng hắn thầm thề, đợi khi thoát được về, nhất định sẽ g.i.ế.c c.h.ế.t bọn họ, g.i.ế.c c.h.ế.t Hứa Phượng Lan, g.i.ế.c cả nhà cô ta, g.i.ế.c cả nhà Giang Kiến Quân.
Trong lòng nghĩ đến chuyện báo thù vô cùng thống khoái, nhưng đầu hắn lại cúi gằm, ra vẻ khúm núm.
Đám dân binh ở lại đại đội bộ được nghỉ ngơi hai đêm không phải làm việc, vừa ra ngoài ngửi thấy mùi xú uế trên người bọn chúng thì không ai muốn ngồi chung thuyền. Họ dùng dây thừng buộc túm từng tên lại, kéo ra mương thoát nước trước cửa đại đội , cầm gậy trúc lùa như lùa vịt, bắt xuống nước rửa sạch sẽ rồi mới cho lên.
Đám người này bị nhốt dưới hầm, hai ngày không được uống giọt nước nào. Vừa bị lùa xuống mương, việc đầu tiên không phải là tắm rửa mà là vục mặt xuống uống lấy uống để mấy ngụm nước mương đục ngầu. Đến khi thấy dòng nước mang theo những "vật thể lạ" màu vàng từ người khác trôi qua trước mặt, bọn họ mới thi nhau nôn thốc nôn tháo.
Khi Hứa Minh Nguyệt đến, cô chỉ điều hai chiếc thuyền dài 5 mét. Giang Kiến Quân và Hứa Hồng Hoa cũng mượn thêm từ trong thôn mỗi người một chiếc thuyền 5 mét nữa, chở hơn ba mươi người của Ủy ban Cách mạng Ngũ Công Sơn đến Cửa Sông Bồ.
Nói là đưa đến Cửa Sông Bồ cũng không hẳn chính xác, vì cô không đưa họ vào nhà tù, mà chèo thuyền đi tiếp mười dặm nữa, đến khu đất Hứa Minh Nguyệt chọn để xây trại nuôi heo.
Hiện tại đê đập quanh nông trường Cửa Sông Bồ đã đắp xong, giờ đang đắp tiếp về phía giáp ranh thành phố, tức là đoạn gần trại heo.
Trại heo nằm ở nơi "đồng không m.ô.n.g quạnh", dưới sự dẫn dắt của Trịnh Tế Hà, hiện đã xong phần móng, chuẩn bị xây chuồng.
Quy mô trại heo không nhỏ, gạch ngói và xi măng vừa phải cung cấp cho trạm thủy điện, vừa phải cung cấp cho việc xây đê. Hai thuyền vật liệu chở đến nhìn thì nhiều, nhưng so với quy mô chăn nuôi Hứa Minh Nguyệt dự tính thì còn thiếu xa.
Gạch không đủ thì lấy đá bù vào.
Với các công trình ven sông, kiến trúc bằng đá còn vững chãi hơn gạch nhiều, chống chịu tốt hơn với nước lũ.
Không chỉ người trong núi đang vận chuyển đá về đại đội Lâm Hà, mà phía Cửa Sông Bồ cũng tấp nập không kém. Từng đoàn người như kiến thợ kiên trì gánh đá, chuyển đá từ trong núi ra đê đập Cửa Sông Bồ. Họ đa phần là phạm nhân cải tạo và những người dân trong núi ít ruộng đất, thiếu lương thực, phải đi gánh đá đổi lấy cái ăn.
Lẫn trong đám người đó còn có người già, phụ nữ và trẻ em xách theo những bao tải chứa d.ư.ợ.c liệu hái được trong núi.
Trạm y tế Cửa Sông Bồ sau khi mở cửa, hiện tại chỉ phục vụ điều trị cho người bên trong nông trường. Hứa Minh Nguyệt đã dặn dò đám dân binh nhắn với người dân miền núi đến đưa đá rằng cô cần thu mua d.ư.ợ.c liệu.
Tiếc là tin tức phát ra đã lâu mà người đến bán d.ư.ợ.c liệu rất ít.
Thứ nhất, người miền núi đa phần không biết mặt d.ư.ợ.c liệu. Người biết thì lại không biết cách sơ chế, bào chế, làm mất hết d.ư.ợ.c tính.
Thứ hai, dù có người biết hái và bào chế thì cũng cần thời gian. Trạm y tế mới mở chưa lâu, tin tức thu mua chưa thể lan rộng nhanh ch.óng được.
Hiện tại thông báo mới là: Ai không biết mặt t.h.u.ố.c, không biết bào chế thì cứ đến Cửa Sông Bồ học nhận diện d.ư.ợ.c liệu trong hai ngày, sau đó về hái mang đến đổi.
Người trong núi phần lớn đều sợ uy danh của trại cải tạo Cửa Sông Bồ, sợ vào rồi bị bắt ở lại gánh đá không cho về. Danh tiếng "đáng sợ" của nơi này lan truyền khắp vùng phía nam sông Đại Hà và trong núi sâu, có tác dụng dọa trẻ con nín khóc cực hiệu quả.
Tuy nhiên, cũng có những người thường xuyên chở đá đến đây, bị tác động bởi uy tín tốt đẹp của Cửa Sông Bồ, biết rằng chỉ cần không làm chuyện xấu thì dân binh sẽ không bắt bớ. Sau khi về, họ liền dẫn con cháu từ năm tuổi trở lên đến đây học nhận mặt thảo d.ư.ợ.c và cách bào chế.
Để khuyến khích nhiều người đến học hơn, Hứa Minh Nguyệt quy định: Chỉ cần là trẻ con được đưa đến học, cô đều bao hai bữa canh miến nấu rau dại.
Lũ trẻ từ trong núi sâu lần đầu ra đến bờ sông đều phấn khích tột độ, nhất là khi nhìn thấy những đầm sen hoang dã ngay gần Cửa Sông Bồ.
Mấy đứa bạo gan còn nhảy ùm xuống nước hái đài sen, nhổ ngó sen mang về.
Sau khi học được vài loại thảo d.ư.ợ.c thông dụng, chúng về nhà dạy lại cho người già, phụ nữ trong gia đình. Cả nhà cùng đi hái t.h.u.ố.c, rồi để lũ trẻ theo cha chú gánh ra Cửa Sông Bồ đổi lương thực.
Dù d.ư.ợ.c liệu mang đến có ít, bào chế có vụng về, thì trong giai đoạn đầu, Cửa Sông Bồ vẫn đổi cho họ một ít khoai lang, miến để khích lệ tinh thần. Quy tắc đổi rất rõ ràng: Dược liệu hái đúng, bào chế tốt thì đổi miến; hái đúng nhưng bào chế sai thì đổi khoai lang; còn sai hoàn toàn thì cũng cho một hai miếng bánh bã khoai, nhưng kèm theo lời dặn dò nghiêm khắc và dạy lại cách phân biệt. Nếu thật sự không biết bào chế thì cứ hái tươi mang đến đổi.
Vì có lương thực làm động lực, lũ trẻ vốn lơ là cũng trở nên chăm chú học hành hẳn.
Chỉ cần mang thảo d.ư.ợ.c đến, ít nhất cũng đổi được vài củ khoai mang về. Chưa nói cái khác, chỉ riêng loại cây hoa tím mọc thành tháp gọi là "hạ khô thảo" đã mọc đầy khắp núi đồi, chân núi, thung lũng, bờ ruộng. Chỉ cần có tay là hái được, phơi khô mang đến bán là có cái ăn, ai cũng biết mặt, ai cũng biết hái.
Lại còn bồ công anh, mã đề, rau sam, cân cốt thảo... bao nhiêu là loại cây cỏ thường thấy, đặc điểm dễ nhận biết. Trước kia người trong núi coi như cỏ dại ven đường trâu bò cũng chê, giờ biết đổi được gạo được miến thì tranh nhau đi đào!
Hiện tại mới chỉ là giai đoạn đầu, số người mang thảo d.ư.ợ.c đến đổi lương thực còn chưa nhiều.
Khi Vương Căn Sinh mới bị giải đến Cửa Sông Bồ, nhìn thấy nhà tù sừng sững như pháo đài phía xa cũng có chút sợ hãi, nhưng hắn không tin Hứa Phượng Lan dám bắt giữ hắn thật.
Đến nơi rồi hắn vẫn còn mạnh miệng đe dọa Hứa Minh Nguyệt: “Tao đến đại đội Lâm Hà thì bố mẹ tao, ba chị gái tao đều biết cả. Chỉ cần tao hai ngày không về, họ chắc chắn sẽ lên Ngô Thành tố cáo. Nếu bây giờ mày thả tao về, tao có thể tha cho mày một con đường sống!”
Hứa Minh Nguyệt coi lời hắn nói như gió thoảng qua tai, sai người lấy tất thối nhét vào mồm hắn, rồi lôi lên núi bắt đi gánh đá.
Ở Cửa Sông Bồ rõ ràng có xe cút kít nhưng Hứa Minh Nguyệt cố tình không cho bọn này dùng. Gánh nổi thì gánh đá vụn, không gánh nổi thì khiêng đá tảng.
Đám Hồng Tiểu Binh này vốn toàn là lũ du thủ du thực ở Ngô Thành và các công xã lân cận, thuộc loại làm thì lười, ăn thì lắm, chỉ giỏi đ.á.n.h nhau gây rối. Hứa Minh Nguyệt không thể để bọn chúng phá hoại trại heo tâm huyết của mình, nên đã bố trí một đội dân binh mới thành lập để giám sát. Kẻ nào dám lười biếng là ăn roi mây ngay.
Chương 193
Chiếc roi tre tua tủa những sợi gai nhỏ quất mạnh xuống, để lại trên người từng đạo vệt m.á.u đỏ lòm, nhưng khéo ở chỗ đòn roi tuy đau thấu xương nhưng lại không khiến người ta bị thương nặng đến mức không thể làm việc.
Vương Căn Sinh có nằm mơ cũng không ngờ rằng, Hứa Minh Nguyệt lại thực sự dám bắt hắn đến Cửa Sông Bồ để gánh đá, hoàn toàn không có ý định thả hắn về. Cả đời này hắn chưa từng phải chịu khổ sở như vậy. Dù hắn có năm lần bảy lượt đe dọa, thậm chí tìm cách hối lộ đám dân binh đang tạm giam mình, cầu xin bọn họ thả người, nhưng đáp lại vẫn chỉ là sự phớt lờ lạnh lùng.
Đám người cai quản bọn họ đều là những dân binh được Hứa Minh Nguyệt đích thân tuyển chọn từ nhóm người mới. Tất cả đều là dân chạy nạn từ phía Bắc tới, mong muốn được an cư lạc nghiệp tại đây. Khó khăn lắm bọn họ mới được chọn làm dân binh ở Cửa Sông Bồ, không chỉ được nhập hộ khẩu mà còn có thân phận và địa vị, đâu dễ gì bị vài câu hứa hẹn hối lộ của Vương Căn Sinh mua chuộc?
Nếu bọn họ dám thả Vương Căn Sinh về, đừng nói đến chuyện mất đi bát cơm sắt trong đội dân binh mà họ đã vất vả mới có được, mà ngay cả Hứa Minh Nguyệt và Hứa Kim Hổ cũng sẽ không buông tha cho họ.
Đã sống ở Cửa Sông Bồ bảy năm nay, họ đã tận mắt chứng kiến cách Hứa Kim Hổ và Hứa Minh Nguyệt xử lý những kẻ phản bội và tội phạm như thế nào. Chỉ cần nghĩ đến cảnh nếu để sổng mất Vương Căn Sinh, sau này họ sẽ phải ở lại Cửa Sông Bồ gánh đá cả đời, là chân tay họ đã mềm nhũn ra vì sợ. Một roi lại quất xuống người đám Vương Căn Sinh: “Khiêng tảng đá cũng chậm chạp như rùa bò, chưa ăn cơm hả?”
Bị nhốt dưới hầm đất suốt hai ngày, bụng đói meo, Vương Căn Sinh – kẻ đúng là chưa được ăn hạt cơm nào – suýt chút nữa bị roi của tên dân binh đ.á.n.h cho quỵ ngã xuống đất không gượng dậy nổi.
Cứ như thế, bị bắt gánh đá liên tục mấy ngày liền ở Cửa Sông Bồ, hắn cảm thấy bao nhiêu khổ cực trên đời này đều dồn hết vào mấy ngày nay. Ngày nào hắn cũng mắt trông mong nhìn về hướng Ngũ Công Sơn , chờ đợi ba người chị gái của mình dẫn người tới cứu hắn trở về.
Ngũ Công Sơn được tạo thành từ năm ngọn núi khổng lồ cao ch.ót vót. Đừng nói là đứng ở Cửa Sông Bồ, mà ngay cả khi ở xa tận công xã Thủy Phụ cũng có thể nhìn thấy năm ngọn núi cao ngất trong mây ấy.
Đám thanh niên trí thức bị bắt đi nhặt đá, xúc đá trên núi cũng ngày ngày ngóng về hướng Ngũ Công Sơn.
Bọn họ vẫn nuôi hy vọng rằng người của Cách Ủy Hội (Ủy ban Cách mạng) ở Ngũ Công Sơn thấy họ mãi không về sẽ đến cứu viện. Mỗi ngày làm xong việc trở về, ai nấy đều trông mòn con mắt nhìn về hướng công xã, chờ mong một lúc nào đó người của Cách Ủy Hội phát hiện ra sự mất tích bất thường này mà đến đón họ về.
Việc Vương Căn Sinh và nhóm người bị bắt đến Cửa Sông Bồ gánh đá khiến mấy người chị gái của hắn thực sự sốt ruột như ngồi trên đống lửa.
Kể từ khi hắn lên làm Chủ nhiệm Cách Ủy Hội, cả nhà họ Vương ở Lão Vương Trang có thể nói là "một người làm quan, cả họ được nhờ". Ngay cả chủ nhiệm sản xuất của Lão Vương Trang trước đây khi nói chuyện cũng phải nể mặt, lấy Vương Căn Sinh làm niềm vinh dự. Trong bối cảnh phản đối phong kiến mê tín dị đoan gay gắt như vậy, họ còn ngang nhiên mở từ đường, dẫn theo già trẻ lớn bé trong thôn đi theo sau Vương Căn Sinh để bái tổ.
Người nhà họ Vương càng lúc càng hống hách, đặc biệt là lão cha của hắn. Ở trong thôn, ông ta nghênh ngang như lão thái quân, nói chuyện ngang ngược, lúc nào cũng giữ cái điệu bộ "trời là nhất, đất là nhì, ông ta là thứ ba".
Anh rể cả của hắn là Vương Căn Minh, nhờ quan hệ của em vợ mà kéo ngã được Bí thư Đinh của đại đội, giờ đây đã trở thành Bí thư đại đội trên danh nghĩa, cả ngày ở trong đại đội la lối ra lệnh. Chị cả Vương Phán Đệ một chữ bẻ đôi không biết, nhưng thấy Hứa Minh Nguyệt làm chủ nhiệm phụ nữ, ả cũng đòi làm chủ nhiệm phụ nữ cho bằng được. Chị ba Vương Chiêu Đệ thì được hắn điều tới công xã núi Năm Công, trở thành chủ nhiệm phụ nữ ở đó. Cả gia đình đều nhờ sự phất lên của hắn mà "gà ch.ó lên trời".
Trong toàn bộ đại đội Thạch Giản, thôn Lão Vương Trang là lớn nhất. Thôn Tạ Gia của nhà chị ba hắn là thôn lớn thứ hai, tuy không bì kịp thôn Hứa Gia và thôn Giang Gia, nhưng ở đại đội Thạch Giản cũng là một thế lực đáng gờm. Các thôn nhỏ khác vì sợ uy thế hiện tại của Vương Căn Sinh mà giận nhưng không dám nói gì.
Bọn họ đều hiểu rõ quyền lực trong tay mình là do ai mang lại, nên đối với việc Vương Căn Sinh hãm hại những người cầm quyền cũ của công xã Ngũ Công Sơn , họ đương nhiên ủng hộ hết mình. Trong đó, vợ chồng chị cả Vương Căn Minh là những người đấu tố Bí thư Đinh tàn nhẫn nhất.
Họ biết Vương Căn Sinh đã dẫn người đi đại đội Lâm Hà, nhưng cũng chẳng lo lắng mấy. Dù sao cũng có hơn ba mươi người đi cùng, lại còn mang theo ba khẩu s.ú.n.g, hỏa lực và quân số như vậy thì ở bất kỳ đại đội nào cũng là một lực lượng không nhỏ. Nếu cộng thêm mười mấy thanh niên trí thức xung phong đi trước đó, tổng cộng hơn 50 người, đủ sức càn quét cả một thôn.
Lý do chính khiến họ không dám phái toàn bộ người đi tìm là vì họ sợ. Họ hiện tại có thể vênh váo tự đắc, chẳng qua là vì sau lưng luôn có mười mấy tay đ.ấ.m đi theo bảo vệ. Nếu phái hết đám tay chân này đi, có khi giây tiếp theo họ đã bị trùm bao tải đ.á.n.h cho đến mức mẹ đẻ cũng không nhận ra.
Vương Căn Minh xưa nay vốn không coi trọng nhà vợ. Nếu không phải cậu em vợ có chút năng lực, hắn còn chẳng thèm để mắt đến nhà vợ. Hiện tại tuy dựa hơi Vương Căn Sinh để lên làm Bí thư đại đội, nhưng khi đã ngồi vào ghế rồi, hắn lại bắt đầu tự cao tự đại, cho rằng nhà vợ chỉ có mỗi một mầm đinh là Vương Căn Sinh, muốn làm nên chuyện lớn thì bắt buộc phải dựa vào sự giúp đỡ của mấy ông anh rể như hắn. Vợ hắn là Vương Phán Đệ thì hoàn toàn theo kiểu "phu xướng phụ tùy", tính tình y hệt chồng.
Người thực sự để tâm và lo lắng cho Vương Căn Sinh, chỉ có Vương Chiêu Đệ và bà mẹ già.
Vương Căn Sinh có căn cơ chưa vững ở công xã Ngũ Công Sơn, nên cần vợ chồng Vương Chiêu Đệ ở đó giúp hắn canh chừng, xem kẻ nào không phục thì báo cáo lại. Vì thế, dù có lo lắng cho em trai đến đâu, Vương Chiêu Đệ cũng không thể dứt ra để rời đi được.
Chỉ còn lại bà Vương.
Vương Căn Sinh đi liền ba ngày không thấy về, bà lão lo lắng đứng ngồi không yên ở đầu thôn Lão Vương Trang, cứ ngóng về hướng đại đội Lâm Hà, nhìn đi nhìn lại rồi nói với người trong thôn: "Căn Sinh đi đã ba ngày rồi, sao vẫn chưa thấy về nhỉ?"
Ông lão Vương c.h.é.m gió khoác lác trong thôn cả ngày, chắp hai tay sau lưng đi về, nghe thấy bà nói vậy thì vẻ mặt đầy mất kiên nhẫn quát: "Đàn ông con trai đi ra ngoài làm việc lớn, mấy ngày không về là chuyện bình thường, cần gì bà phải lo chuyện bao đồng? Quản tốt bản thân bà đi!"
Bà Vương giờ đây tóc đã bạc trắng, thân hình nhỏ thó gầy gò, càng ngày càng già yếu. Rõ ràng bà nhỏ hơn ông Vương mười tuổi, nhưng nhìn bề ngoài và tinh thần lại như già hơn ông ta cả chục tuổi.
Cả cuộc đời này bà bị cả nhà họ Vương ức h.i.ế.p, sống ở tầng thấp nhất trong chuỗi thức ăn của gia đình. Dù hiện giờ con trai đã có tiền đồ, bà đã được ngồi lên bàn ăn một bát cơm canh t.ử tế, nhưng vẫn sợ hãi ông Vương, cứ vâng vâng dạ dạ đi theo sau ông ta: "Ông nó ơi, tôi lo cho Căn Sinh quá, tôi chỉ có mỗi một mụn con trai, làm sao mà không lo cho được!"
Có lẽ những lời nói mềm mỏng của bà đã dập tắt bớt cơn giận của ông Vương, giọng ông ta hòa hoãn hơn một chút: "Lo cái gì mà lo? Mấy năm nay nó làm việc trên thành phố Ngô Thành, một năm có về được mấy lần đâu, chẳng phải vẫn sống tốt đó sao? Cần gì bà phải lo?"
Quả thực, mấy năm nay Vương Căn Sinh ở thành phố, mỗi năm chỉ về dịp Tết được dăm ba bữa, họ cũng đã quen với việc quanh năm suốt tháng không thấy mặt con.
Bà Vương còng lưng, run rẩy đi theo sau ông lão, thỉnh thoảng vẫn lo âu quay đầu nhìn về hướng đại đội Lâm Hà, cười khổ: "Tôi cũng biết là mình lo bò trắng răng, nhưng con đi xa, làm mẹ sao có thể không bận lòng?"
Sang đến ngày hôm sau vẫn không thấy bóng dáng Vương Căn Sinh đâu, bà Vương bắt đầu cuống lên, chạy đi tìm con gái lớn Vương Phán Đệ: "Phán Đệ! Phán Đệ ơi! Em trai con đi đại đội Lâm Hà từ hôm kia, sao hôm nay vẫn chưa thấy về? Con bảo thằng Căn Minh cho người sang bên đó xem sao, đừng để xảy ra chuyện gì!"
Vương Phán Đệ hiện tại đang vô cùng phong quang đắc ý ở đại đội Thạch Giản, tay bế cậu con trai út, mặt tươi cười hớn hở, giọng điệu cũng đầy vẻ không kiên nhẫn: "Thì có chuyện gì được chứ? Đại đội Thạch Giản chúng ta gần Lâm Hà như vậy, bọn họ dám làm gì? Căn Sinh giờ là cán bộ nhà nước, là người đứng đầu công xã Ngũ Công Sơn , đừng nói là đại đội Lâm Hà, cho dù là Hứa Kim Hổ có tới cũng không dám đụng đến em trai đâu. Mẹ cứ để tâm trong bụng đi!"
Ả biết rõ chỗ dựa của em trai mình là Chủ nhiệm Cách Ủy Hội thành phố Ngô Thành, đó là nhân vật lớn mà ngay cả Hứa Kim Hổ cũng không dây vào được.
Trước đây, cái tên Hứa Kim Hổ ở vùng này chính là "ông trời con", là người lợi hại nhất.
Bà Vương đứng trước mặt ông lão thì không dám ho he, nhưng trước mặt mấy đứa con gái thì cũng có chút uy quyền, bà giục: "Em trai con một ngày không về là mẹ một ngày không yên. Mẹ bảo con đi tìm em thì con đi đi, nếu con không đi, mẹ sẽ đi tìm em gái con!"
Vương Phán Đệ và Vương Chiêu Đệ đã xích mích hơn chục năm nay, vừa nghe thấy mẹ đòi lên công xã tìm em út thì cũng đau đầu, đành nhượng bộ: "Được rồi, được rồi. Con bé Chiêu Đệ ở công xã cũng mù tịt thông tin thôi, Căn Sinh không ở đó thì phải dựa vào nó trông coi giùm. Mẹ đừng đi thêm phiền phức nữa. Chẳng phải chỉ là gọi người sang đại đội Lâm Hà ngó nghiêng chút thôi sao? Để con bảo thằng Tam Nạo T.ử đi một chuyến là được."
Vốn dĩ ả định nhờ chú em chồng, nhưng tiếc là dù ả đẻ liền tù tì ba đứa con trai, thì ở nhà chồng tiếng nói vẫn chẳng có chút trọng lượng nào. Bất đắc dĩ, ả đành phải tìm người trong họ tộc.
Tam Nạo T.ử chính là một trong bốn kẻ từng bị dọa phát bệnh vì gặp "nữ quỷ" trên núi hoang lúc trước. Vì trí tuệ có chút kém cỏi nên mọi người vẫn gọi hắn là "Tam Nạo Tử", tính tình cũng rất lì lợm. Hơn hai mươi tuổi đầu, trong khi đám Tạ Tứ Bảo từng chơi cùng đều đã vợ con đuề huề, thì hắn vẫn lông bông một mình, suốt ngày lang thang trong thôn.
Vừa nghe Vương Phán Đệ bảo đi đại đội Lâm Hà, đầu hắn lắc như trống bỏi: "Em không đi đâu, đại đội Lâm Hà có ma, chị gọi người khác đi, em không đi!"
Nói xong hắn co giò chạy biến, mặc kệ Vương Phán Đệ gọi khản cả cổ cũng không quay đầu lại.
Hết cách, Vương Phán Đệ đành phải bỏ ra ba hào, thuê một thanh niên khác trong thôn khoảng 17-18 tuổi chạy sang đại đội Lâm Hà xem xét tình hình.
Cậu thanh niên này từ nhỏ đã nghe chuyện ma núi hoang ở đại đội Lâm Hà mà lớn lên, nhưng chưa từng tận mắt thấy ma bao giờ, nên đối với lời đồn đại thì bán tín bán nghi. Lại đang ở độ tuổi "điếc không sợ s.ú.n.g", cộng thêm ba hào tiền công của Vương Phán Đệ, cậu ta chạy nhanh hơn cả thỏ, một mạch tới thẳng thôn Giang Gia, tìm người dân hỏi thăm: "Thím ơi, hôm qua chủ nhiệm Căn Sinh của công xã chúng cháu có tới đại đội các thím, mọi người có thấy ông ấy không ạ?"
Cậu ta cũng không ngốc, vừa hỏi vừa dáo dác nhìn quanh thôn Giang Gia.
Người phụ nữ thôn Giang Gia vừa nghe nội dung dò hỏi liền biết tỏng thằng nhóc này tới làm gì, lập tức hiểu ý, giả lả nhiệt tình nói: "Cậu nói chủ nhiệm nào cơ? Đại đội chúng tôi chỉ có chủ nhiệm Hứa thôi. Này chàng trai, cậu đi nhầm chỗ rồi phải không?" Bà ta chỉ tay về phía năm ngọn núi cao ch.ót vót phía xa: "Cậu muốn tìm Ngũ Công Sơn thì ở đằng kia, không phải ở đây đâu, tìm lầm rồi!"
Cậu thanh niên vẫn không rời mắt khỏi thôn Giang Gia: "Thật sự không thấy ạ?"
Nhìn từ bên ngoài vào thôn Giang Gia, quả thật chẳng thấy gì bất thường. Trụ sở đại đội Lâm Hà khác với các đại đội khác, nó nằm tách biệt ngay ngoài cửa thôn, là một tòa nhà lớn, liếc mắt một cái là bao quát được ngay.
Cửa lớn của trụ sở đóng kín mít, im lìm, không có lấy một tiếng động lạ. Đứng trên con đê giữa sân phơi thóc và trạm thủy điện nhìn xuống, chỉ thấy những cánh đồng lúa mênh m.ô.n.g bát ngát đã trổ bông, gió thổi làm sóng lúa nhấp nhô tầng tầng lớp lớp. Phía xa trên đê, các đội viên đang cần mẫn gánh đất đắp bờ, gần thôn là cảnh các bà, các mẹ dẫn theo người già trẻ nhỏ làm cỏ bón phân, cả thôn toát lên vẻ thanh bình yên ả.
Thấy thôn Giang Gia không có gì lạ, cậu ta lại quay sang hỏi người phụ nữ: "Thím à, liệu chủ nhiệm của chúng cháu có ở bên thôn Hứa Gia không?"
Người phụ nữ cũng chẳng thèm để ý đến cậu ta nữa, cúi xuống tiếp tục làm cỏ, buông một câu: "Thế thì tôi làm sao mà biết được? Cậu tự mình sang thôn Hứa Gia mà hỏi thăm chẳng phải sẽ rõ sao?"
Thấy người phụ nữ không thèm đáp lời, cậu thanh niên nhìn về phía ngọn núi hoang nằm giữa thôn Giang Gia và thôn Hứa Gia. Cậu biết rõ đây chính là nơi tập trung những câu chuyện ma quái mà mình đã nghe từ bé đến lớn.
Cho dù là giữa ban ngày ban mặt, mặt trời ch.ói chang trên đỉnh đầu, hai bên núi hoang đều có người đang làm đồng, bên tai là tiếng ve kêu râm ran và tiếng chim đỗ quyên thánh thót từ xa vọng lại, nhưng khi đến gần núi hoang, cậu vẫn cảm thấy không khí ở đây âm u khác thường, tiếng gió rít nghe như tiếng quỷ khóc. Tim cậu đập thình thịch, chẳng dám nhìn thêm cái nào, vội vã bước nhanh qua núi hoang để sang thôn Hứa Gia.
Nhưng khi đến thôn Hứa Gia, cậu lại càng hoảng sợ hơn.
Không chỉ lớn lên cùng những câu chuyện ma núi hoang, cậu còn lớn lên dưới cái bóng uy danh của Hứa Kim Hổ. Ở vùng này, đứa trẻ nào không nghe lời là bố mẹ lại dọa: "Mày mà còn hư nữa là tao bảo Hứa Kim Hổ ở thôn Hứa Gia bắt mày đi nông trường cải tạo lao động đấy!"
Trẻ con thậm chí còn chẳng biết "cải tạo lao động" là cái gì, chỉ biết đó là một thứ vô cùng đáng sợ!
Địa thế thôn Hứa Gia là một vùng đất cao, cao hơn nhiều so với núi hoang và thôn Giang Gia. Đứng ở cuối thôn, chỗ thấp nhất, cũng có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ vùng Hà Vu.
Nhưng cũng chính vì thôn Hứa Gia quá rộng lớn, địa thế lại quá cao, nên đứng ở vị trí cuối thôn thì hoàn toàn không thể dò xét được tình hình bên trong thôn.
Cậu thanh niên đứng ở cuối thôn Hứa Gia, tay chân luống cuống, chẳng biết phải làm thế nào để hỏi thăm tin tức của Vương Căn Sinh.
