Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 350: Ám Hiệu Chỉ Đường Và Giải Pháp Vẹn Cả Đôi Đường
Cập nhật lúc: 11/01/2026 15:28
Nút thắt cỏ không hề nhỏ, to cỡ hai nắm tay người lớn, nằm rũ rượi trên ngọn cỏ ngay tại ngã ba đường.
Ban đầu khi mới nhìn thấy nút thắt kiểu này, Hứa Phượng Tường thực sự không để tâm lắm. Nhưng đi qua vài ngã rẽ, anh đã đếm được ba cái nút thắt y hệt nhau.
Đi bên cạnh anh là một người đàn ông vạm vỡ thuộc chi trưởng thôn Hứa, thấy lạ liền đưa tay định gạt đi: "Chỉ là cái nút thắt cỏ thôi mà? Ở đâu mà chẳng có?"
Nếu không phải đang là đầu xuân, cây cỏ trên núi chưa bắt đầu mọc um tùm, thì dọc đường đi chắc họ chẳng biết phải vạch bao nhiêu bụi cỏ mới tìm được lối.
Hứa Phượng Tường vội vàng ngăn lại: "Này này này, tay chân cậu đừng có táy máy! Động vào nó làm gì?" Anh cẩn thận khôi phục lại hiện trạng của nút thắt, chỉ tay về hướng mà đầu nút thắt đang trỏ tới: "Các cậu nhìn xem, cái đầu nhọn của nút thắt này có phải đang chỉ về hướng đại đội Sơn Y không?"
Người dẫn đường do Bí thư Từ tìm đến bước lên quan sát, cũng đưa tay khẽ chạm vào cái nút thắt rõ ràng là do con người tạo ra này: "Có phải do đám thanh niên trí thức rời núi mấy hôm trước đ.á.n.h dấu không? Bọn họ không quen đường, buộc mấy cái nút cỏ để đ.á.n.h dấu phương hướng cũng là chuyện bình thường."
Nhờ phát hiện này, khi đến các ngã ba tiếp theo, Hứa Phượng Tường và người dẫn đường đều chú ý quan sát kỹ lưỡng hơn. Quả nhiên, họ lại phát hiện thêm những nút thắt cỏ tương tự. Cứ mỗi khi đến đoạn cần rẽ vào đường mòn, sẽ lại xuất hiện một "biển báo" bằng cỏ như thế.
Hứa Phượng Tường lập tức phân phó cho những người trong đội đi các đại đội khác: "Mấy cậu đi đường bên kia cũng chú ý tìm xem có ký hiệu như thế này không, kẻo lại chạy nhầm đường."
Trong núi cũng có ruộng nương, có ruộng thì ắt có bờ vùng bờ thửa, có đường đi. Những con đường mòn như thế này không ít, có cái dẫn lên ruộng nương trên núi, có cái lại dẫn đến hồ nước hay đập chứa nước trong rừng. Một khi đi nhầm, sẽ phải đi vòng một quãng rất xa. Họ đi về trong ngày, nếu đi đường vòng hoặc lạc đường thì sẽ trễ nải rất nhiều thời gian.
Lần này tuyển dụng hai nữ thanh niên trí thức từ trong núi, sau khi đối chiếu với bản đồ phân bố các đại đội mà Bí thư Từ cung cấp, họ nhận thấy hai người này đến từ hai hướng hoàn toàn trái ngược nhau. Vì thế, đoàn người chia làm hai đội: một đội đi về hướng Đông, một đội đi về hướng Tây. Trên đường đi, họ còn chia nhỏ ra để vào các đại đội khác nhau thám thính tình hình, lấy cớ là đi đưa giấy báo trúng tuyển. Còn chuyện tại sao đi nhầm đường vào đại đội này ư? Người ngoài núi không quen đường rừng, đi nhầm là chuyện thường tình. Chính nhờ cái cớ hỏi đường đó, họ có thể dò la tin tức về giao thông và tình hình địa phương một cách tự nhiên nhất.
Trong khi nhóm của Hứa Phượng Tường đang thâm nhập vào núi sâu dò la tin tức, thì Hứa Minh Nguyệt cũng không nhàn rỗi. Cô cùng Mạnh Phúc Sinh chèo một chiếc thuyền nhỏ loại ba người, hướng về phía công xã Thủy Phụ.
Chiếc thuyền rất nhỏ, chỉ đủ cho một người đứng ở mũi thuyền chèo và một người cùng chiếc xe đạp ngồi trong khoang. Chuyến đi này không quá cần thiết phải mang theo dân binh, nên chỉ có hai vợ chồng cô đi. Mạnh Phúc Sinh đảm nhận việc chèo thuyền bằng đôi mái chèo.
Hứa Minh Nguyệt ngồi nhìn mà trong lòng nơm nớp lo sợ. Cô lôi mấy cái phao bơi (vốn là loại phao tập bơi của A Cẩm ở thời hiện đại) mà cô mang theo. Sợ một cái phao không đủ nâng trọng lượng người lớn, cô xâu chuỗi vài cái lại với nhau, chế thành kiểu áo phao cứu sinh. Hai vợ chồng mỗi người mặc một bộ gồm bốn cái phao như thế rồi mới dám bước xuống chiếc thuyền nan nhỏ bé.
Loại thuyền này khác với thuyền mui trần cô hay dùng. Thuyền mui trần quá lớn, hiện tại mực nước xuống thấp, bãi bồi lộ ra nhiều nên thuyền lớn không chạy được và cũng không thể cập bờ.
Bây giờ thuyền cũng không thể đi thẳng đến công xã Thủy Phụ được. Do mực nước thấp, họ phải rời thuyền từ rất xa, sau đó lên bờ, dắt xe đạp đi vòng một quãng đường lớn trên con đê hướng về phía thành phố kế bên mới đến được chỗ Hứa Kim Hổ.
Vốn dĩ cô định tự mình chèo thuyền và đạp xe, nhưng Mạnh Phúc Sinh bây giờ coi cô như món đồ sứ dễ vỡ, sợ xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn. Một chàng trai phương Bắc đến phương Nam, thế mà anh lại kiên trì học bằng được cách chèo thuyền đôi. Sau khi lên bờ, thấy mặt đường đê hẹp, anh thà dắt bộ xe đạp chứ nhất quyết không chịu đèo cô vì sợ xóc. Mãi đến khi ra đường lớn bằng phẳng, anh mới chịu để cô ngồi sau xe, còn mình thì chậm rãi đạp phía trước.
Hứa Kim Hổ thấy cô đến cũng không lấy làm ngạc nhiên. Cô là Bí thư công xã, dăm bữa nửa tháng lại phải lên công xã họp hành một chuyến. Vừa thấy cô, ông liền hỏi thăm sức khỏe dạo này thế nào, rồi hỏi chuyện khai hoang trồng trà: "Đám nhãi ranh kia có nghe lời không, có gây chuyện gì cho cháu không?"
Điều ông lo lắng nhất chính là Hứa Minh Nguyệt còn quá trẻ, sợ không trấn áp được đám "đầu trâu mặt ngựa" bên kia sông.
Hứa Minh Nguyệt cười cười, kể lại tình hình phía Nam sông lớn: "Đại đội cháu, đại đội Thạch Giản và đại đội Sơn Trước đều đang chỉnh đốn lại đồi núi rồi ạ. Chỉ có đại đội Kiến Thiết và đại đội Hòa Bình là không mấy phối hợp."
Hứa Kim Hổ phẩy tay vẻ không quan tâm: "Kệ xác bọn họ, cơm dâng đến tận miệng còn không biết đường mà ăn. Nếu việc trồng trà mà vô dụng thì cái lò ngói và cả ngọn đồi trà của chúng ta để làm cảnh chắc? Nếu không phải mấy năm nay chính sách..." Nói đến đây, Hứa Kim Hổ bỗng im bặt, không nói thêm nữa.
Ông có chút ngạc nhiên hỏi lại: "Sao đại đội Thạch Giản lại chịu làm theo?"
Hứa Minh Nguyệt kéo ghế ngồi xuống, Hứa Kim Hổ thuận tay rót thêm nước ấm vào cốc cho cô và Mạnh Phúc Sinh.
"Là do Bí thư Đinh của đại đội Thạch Giản ạ. Năm ngoái bác ấy có đến hỏi chuyện đi học cho cháu nội. Sau tết khai giảng, bác ấy sang đại đội cháu tham quan, thấy bên cháu đang khai hoang chuẩn bị trồng trà. Đại đội bác ấy ở gần, về cái là cũng hô hào làm theo luôn. Tuy nhiên lòng người bên đó cũng không đồng thuận lắm. Đội trưởng cũ là người thôn Vương, mà người nhà họ Vương kia bị cháu tống vào mỏ đá rồi đấy thôi. Giờ đổi sang Chủ nhiệm Tạ của thôn Tạ. Hai thôn Tạ - Vương xưa nay tuy hai mà một, thân thiết đến mức mặc chung một cái quần. Thôn Tạ và thôn Vương không chịu làm, nên Bí thư Đinh đành dẫn bốn thôn còn lại đi khai hoang."
Vừa hay bốn thôn nhỏ này đều nằm ở chân núi. Thôn Vương thực tế nằm ở phía Nam khe núi, còn thôn Tạ và thôn Vương chỉ cách nhau một khe suối, vị trí nằm thấp hơn thôn Vương một chút.
Hứa Kim Hổ đương nhiên quen biết Bí thư Đinh của đại đội Thạch Giản, ông cười khà khà: "Thôi cứ kệ họ, ai chịu làm thì mình dẫn dắt! Chứ cái lão Ngô ở đại đội Hòa Bình với lão Uông ở đại đội Kiến Thiết, đúng là hết t.h.u.ố.c chữa. Bảo sao bao nhiêu năm nay, hai cái đại đội ấy vẫn cứ nát bét như thế!"
Hứa Kim Hổ tỏ vẻ cực kỳ khinh thường.
Ở gần nhau dễ sinh va chạm, đại đội Lâm Hà vốn chẳng coi đại đội Hòa Bình và Kiến Thiết ra gì. Hai đại đội này lúc nào cũng thích ganh đua với Lâm Hà, nhưng chưa bao giờ thắng nổi, mặt nào cũng bị Lâm Hà đè bẹp dí, giờ thì xách dép đuổi theo cũng không kịp.
"Cháu lên công xã có việc gì không? Giờ nước sông cạn, đi thuyền bất tiện, cháu cứ ở nhà dưỡng t.h.a.i cho tốt đi. Bên Hà Đông này có chú lo rồi, không loạn được đâu. Mùa xuân này vợ chồng cháu lo chuẩn bị vụ trà cho tốt là được. Đợi qua xuân, khu ký túc xá đại viện chắc cũng xây xong rồi!" Nói đoạn, ông đứng dậy, không kìm được vẻ khoe khoang: "Đi, chú dẫn cháu đi xem ký túc xá mới!"
Ký túc xá mới xây được một tầng, nhưng hình hài cơ bản đã hiện ra rõ rệt. Để tiện cho việc lấy nước, Hứa Kim Hổ còn đặc biệt cho người đào giếng ngay trước sân ký túc xá.
Nhìn ánh mắt sáng rực của Hứa Kim Hổ, Hứa Minh Nguyệt thừa biết ông đang ghen tị với việc Giang Thiên Vượng trước kia từng đốc thúc xây dựng trường Tiểu học Lâm Hà và trạm thủy điện, nhờ đó mà thăng chức Phó huyện trưởng, ngồi lên đầu ông.
Đừng thấy chỉ là từ Bí thư công xã lên Phó huyện trưởng, bước nhảy vọt này là điều mà cả đời nhiều người không dám mơ tới. Quan trọng hơn, lên đến chức Phó huyện trưởng, Giang Thiên Vượng có thể đưa cả nhà thực hiện việc "nông chuyển phi" (chuyển hộ khẩu từ nông thôn ra thành phố). Đây mới là nguyên nhân chính khiến Hứa Kim Hổ chua xót. Cô con gái út Hứa Hồng Hà của ông vẫn mang hộ khẩu nông thôn, muốn gả vào thành phố cũng khó.
Bản thân ông ngoài việc suốt ngày đấu đá với đám Hồng Tiểu Binh từ Ngô Thành phái xuống thì chưa làm được mấy việc ra hồn. Giờ cuối cùng cũng có một công trình "nhà cửa" để khoe, dù ý nghĩa không lớn bằng trường học hay trạm thủy điện, cũng đủ để ông phổng mũi. Ông hớn hở dẫn Hứa Minh Nguyệt đến khu ký túc xá mới cách đó 500 mét.
Hứa Minh Nguyệt đương nhiên không tiếc lời khen ngợi ông chú: "Cũng nhờ có chú hai tọa trấn ở công xã, cháu ở phía Nam sông lớn mới yên tâm dẫn dắt mọi người sản xuất được, công xã mới bình yên thế này chứ. Vẫn là chú hai biết cách làm việc, thời gian ngắn thế mà ký túc xá đã ra hình ra dạng rồi. Phải là người khác thì làm sao điều động được nhiều nhân lực thế này?"
Mấy lời nịnh nọt của cô khiến Hứa Kim Hổ nở cả ruột gan, ông đắc ý nói: "Chứ sao nữa, nếu không có chú mày đứng mũi chịu sào ở đây, thì cái lão Giang kia làm nên trò trống gì? Lão ấy cũng chỉ gặp vận cứt ch.ó mới được lên thành phố thôi. Không có tao ở hậu phương giữ yên ổn cái công xã này, lão ấy lấy đâu ra thành tích mà thăng quan? Tao nói thật, cái chức Phó huyện trưởng của lão ấy, ít nhất cũng có một nửa công lao của tao!"
Hứa Minh Nguyệt chỉ biết cười trừ.
Sau đó, Hứa Kim Hổ dẫn cô đi xem tiến độ làm đường của công xã.
Việc làm đường gặp phải hai vấn đề lớn nhất. Một là thuyết phục người dân di dời mồ mả. Khu vực này tuy là bãi tha ma hoang phế, nhưng cũng có không ít ngôi mộ đàng hoàng nằm ở đây, có những ngôi mộ lịch sử cả một hai trăm năm. Hai là vấn đề thiếu nhân lực.
Vốn dĩ dù trong núi hay ngoài núi đều có nhiệm vụ bắt buộc đi đắp đê, giờ lại thêm khai hoang trồng trà, xây ký túc xá cán bộ, công trình nào cũng cần người. Nay lại thêm việc làm đường, nhân lực của công xã Thủy Phụ tự nhiên thiếu hụt trầm trọng.
Vì thế tiến độ làm đường chậm như rùa bò, kém xa tốc độ xây ký túc xá.
Hứa Kim Hổ xoa xoa mặt đầy phiền não. Người ta có bá đạo đến đâu cũng không thể cưỡng chế bắt dân đào mồ cuốc mả tổ tiên lên được.
Hứa Minh Nguyệt chợt nảy ra một ý tưởng, cô nói: "Nếu chúng ta vận động họ dời mộ về cạnh nghĩa trang liệt sĩ thì sao ạ?"
Cách công xã Thủy Phụ khoảng nửa giờ đi bộ về hướng thành phố kế bên có một nghĩa trang liệt sĩ, được xây dựng từ năm 1953. Hôm nay khi đi thuyền vòng qua đó, Hứa Minh Nguyệt mới nhớ lại ký ức kiếp trước: năm nào đi học, cứ đến tiết Thanh Minh là trường lại tổ chức đi viếng các liệt sĩ cách mạng ở đó.
"Công xã mình không thiếu xi măng, năm nay nhà máy xi măng cũng đang mở rộng quy mô. Chú hai à, chú xem có thể nhân tiện nâng cấp, cải tạo luôn nghĩa trang liệt sĩ được không? Khu đất bên đó toàn là đất hoang, bán kính mười mấy dặm chẳng có nhà dân nào. Nếu dời mộ về đó, lại được xây cất t.ử tế bằng xi măng, liệu còn có ai không đồng ý không?"
Hứa Kim Hổ đúng là chưa từng nghĩ đến phương án này. Ông chỉ nghĩ đến việc bảo dân dời mộ đi chỗ khác, càng xa càng tốt, không có bồi thường gì cả, chứ chưa bao giờ nghĩ đến hướng nghĩa trang liệt sĩ.
Cũng không thể trách ông được. Phía Nam sông lớn cách công xã Thủy Phụ quá xa, lại bị dòng sông ngăn cách, đường sá không thông, nên người dân bên đó từ xưa đến nay không có truyền thống hay tập tục đi viếng nghĩa trang liệt sĩ.
Từ khi Hứa Kim Hổ lên làm chủ nhiệm Cửa Sông Bồ và chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng công xã, phong trào bài trừ mê tín dị đoan, xóa bỏ hủ tục diễn ra rầm rộ trên cả nước. Đừng nói đến mộ liệt sĩ, ngay cả muốn cúng bái mộ tổ tiên nhà mình cũng phải lén lút, bị bắt được là lôi ra đấu tố ngay. Ngôi mộ liệt sĩ kia mấy năm nay không ai ngó ngàng, hoang phế chẳng khác gì mộ hoang.
Thời đại này cũng chưa có khái niệm "nghĩa trang liệt sĩ" quy mô, chỉ đơn giản là một tấm bia đá rất đơn sơ. Nếu trên mặt bia không khắc dòng chữ "Thành lập Sư đoàn 7 Tân Tứ quân" hay "Chiến dịch Độ Giang", thì nhiều người chắc đã quên mất nơi này còn có mộ liệt sĩ cần hương khói.
Nếu Hứa Minh Nguyệt không nhắc, Hứa Kim Hổ cũng chẳng nhớ ra sự tồn tại của nó.
Hứa Minh Nguyệt đề xuất xây một đài tưởng niệm liệt sĩ lớn hơn, khắc tên tất cả các liệt sĩ lên bia đá. Những ngôi mộ dân thường dời đến cũng sẽ được quy hoạch chỉnh trang đàng hoàng. Sau này, dù là viếng liệt sĩ hay viếng tổ tiên thì cũng quy về một mối, vừa thuận tiện lại vừa "náo nhiệt".
Đúng vậy, là "náo nhiệt".
Trong phong tục địa phương, ngay cả với người đã khuất cũng chú trọng sự đông vui, náo nhiệt. Sợ nhất là những ngôi mộ cô quạnh không người hương khói, trong mắt người dân địa phương thì đó là cảnh thê lương, đáng thương nhất.
Hứa Kim Hổ xoa đầu cô cháu gái, cảm thán: "Cái đầu của cháu cấu tạo kiểu gì thế hả? Sao cái gì cũng nghĩ ra được vậy?"
Làm như vậy, chuyện dời mộ sẽ được giải quyết nhanh ch.óng hơn nhiều. Người dân cũng sẽ không bài xích, vì dù sao được chôn cất cạnh bia mộ anh hùng, được anh linh các liệt sĩ bảo vệ cũng là một niềm an ủi tâm linh lớn.
Hai người vừa nói chuyện, bước chân bất giác hướng về phía nghĩa trang liệt sĩ. Khi đi ngang qua đại viện công xã, Hứa Kim Hổ dắt chiếc xe đạp ra, gọi cả Mạnh Phúc Sinh đi cùng. Mạnh Phúc Sinh đèo Hứa Minh Nguyệt, ba người đạp xe về hướng nghĩa trang.
Quãng đường đi bộ mất 30 phút, đạp xe chỉ tốn chừng mười phút là tới nơi.
Mộ liệt sĩ nằm cách ven đường không xa, nhưng vì lâu ngày không có người lui tới tảo mộ, cỏ dại và cây cối đã mọc um tùm, che lấp hoàn toàn ngôi mộ.
Ba người phải vạch đám cỏ khô xung quanh, vất vả lắm mới dọn sạch được lối vào để lộ ra ngôi mộ và tấm bia đá.
Hứa Kim Hổ dùng tay phủi bụi trên tấm bia đá bình thường, thở dài cảm thán: "Một ngôi mộ liệt sĩ đàng hoàng thế này mà lại để hoang phế đến mức này đây."
