Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 402:------
Cập nhật lúc: 13/01/2026 23:00
Nhưng đó là lựa chọn cá nhân, Hứa Minh Nguyệt cũng không muốn can thiệp. Đó là căn bệnh chung của thời đại này: nghèo đến sợ hãi. Thời trẻ không có nhiều cơ hội kiếm tiền, nên dù hiện tại đại đội Lâm Hà có nhiều ruộng đất, nhiều nhà máy, nhiều con đường làm giàu, họ vẫn giữ thói quen tiết kiệm, trời tối là đi ngủ, hoặc mò mẫm làm việc trong bóng tối.
Nghe Hứa Minh Nguyệt nói vậy, bí thư của hai đại đội kia mới thở phào nhẹ nhõm. Trở về, họ thông báo với các đội viên về việc sắp xây trạm thủy điện giữa hai đại đội: “Đại đội Lâm Hà mọi người đều biết rồi chứ? Cứ đến mùa hè cần lấy nước là máy bơm chạy ầm ầm, bơm nước sông Trúc T.ử thẳng lên mương dẫn vào chân núi. Đâu có khổ sở như hai đại đội chúng ta, năm nào cũng còng lưng gánh nước! Đợi trạm thủy điện này thông, chúng ta cũng sẽ giống như đại đội Lâm Hà, dùng máy bơm đưa nước lên núi, không cần phải gánh nữa!”
Nghe tin từ nay về sau không phải đội nắng hè gánh từng thùng nước lên tưới ruộng ở chân núi, khuôn mặt đen bóng khỏe mạnh của các đội viên đều nở nụ cười chất phác: “Thế thì còn gì bằng!”
“Nếu được như đại đội Lâm Hà thì đời lên hương rồi.”
“Vẫn là Thư ký Hứa tốt bụng, thương xót chúng ta vất vả!”
Bí thư đại đội xua tay ra hiệu trật tự, nói tiếp: “Thư ký Hứa nói muốn xây trạm thủy điện giữa hai đại đội chúng ta, nhưng trạm xây xong thì nước cũng không tự mọc chân chạy lên núi được. Phải đào kênh mương, nước sông bơm lên mới theo mương chảy về chân núi. Thư ký bảo chúng ta chọn địa điểm đào một hồ chứa nước, bơm nước lên trữ vào đó. Sau này dù máy bơm không chạy thì chân núi vẫn có nước dùng, không phải hì hục chạy ra sông gánh nước nữa!”
Nghe nói phải đào mương, người dân hai đại đội đều không hề phản đối.
Họ đã sớm nhìn thấy hệ thống kênh mương của thôn Hứa gia và thôn Giang gia ở đại đội Lâm Hà. Kênh mương thôn Giang gia uốn lượn chạy ngược lên ba thôn Thi, Hồ, Vạn, rồi rẽ sang thôn Tiểu Giang, khiến họ ghen tị không thôi.
Chỉ có điều, muốn đào mương thì mùa đông này họ lại không được nghỉ ngơi rồi.
Hiểu tâm tư của bà con, bí thư đại đội động viên: “Mệt thì cũng chỉ mệt một mùa đông này thôi. Đợi trạm thủy điện đi vào hoạt động là sướng cả đời. Không chỉ thế hệ chúng ta không phải gánh nước lên chân núi nữa, mà con cháu chúng ta đời đời kiếp kiếp về sau cũng không phải vất vả gánh nước tưới ruộng! Mọi người nghĩ xem, có đáng không!”
Nghe vậy, gương mặt các đội viên đều lộ vẻ thuần phác, rạng rỡ: “Đáng chứ, sao lại không đáng! Vất vả một năm mà để con cháu sau này không phải phơi nắng gánh nước thì cũng bõ!”
“Cái lưng tôi gánh nước đến chấn thương rồi đây này, tối đau muốn c.h.ế.t mà có dám nghỉ đâu. Nghỉ thì ruộng bỏ hoang à? Lấy gì mà ăn?”
“Tôi cũng thế, qua một mùa hè là vai phồng rộp, da tróc cả mảng, đau thấu tim gan. Tối tắm cũng không dám dội nước, nước vào xót lắm. Mùa hè nóng, vết thương còn nhiễm trùng, mãi không khỏi được mà vẫn phải gánh tiếp, biết làm sao được?”
Thế hệ này thực sự quá khổ, quanh năm suốt tháng làm việc không ngơi tay. Đôi vai gánh vác nặng nhọc chai sạn dày cộp, sờ vào cứng như lòng bàn chân.
Cả người đầy thương tích!
Ai nấy đều mang trên mình đầy thương tích!
Việc xây dựng trạm thủy điện không phải chuyện một sớm một chiều. Trước tiên phải chọn địa điểm, chọn xong còn phải tôn nền cao lên để phòng ngừa lũ lụt sau này.
Từ sau ba năm hạn hán, mấy năm nay vùng phía nam sông lớn mưa thuận gió hòa. Dù năm ngoái mưa nhiều khiến mọi người lo lắng vỡ đê, nhưng công sức đắp đê liên tục mấy năm qua cuối cùng cũng phát huy tác dụng. Con đê vững chãi đã ngăn dòng nước dâng cao trong lòng sông Trúc Tử, không để lũ tràn vào thôn xóm và ruộng đồng.
Nhưng điều đó không có nghĩa là sau này sẽ không có lũ lụt. Trạm thủy điện không chỉ gánh vác nhiệm vụ phát điện, bơm nước tưới tiêu vào mùa khô hạn, mà trong mùa mưa lũ, nó còn có thể bơm nước từ sông lớn ra nơi khác, bơm vào kênh mương, hồ chứa hay ruộng đồng dưới chân núi, bơm được bao nhiêu hay bấy nhiêu, ít nhiều cũng giảm bớt thiệt hại do thiên tai.
Tất nhiên, gặp phải đại hồng thủy vượt quá sức người thì cũng đành chịu.
Vì vậy, việc chọn địa điểm và độ cao cho trạm thủy điện là vô cùng quan trọng.
Hôm đại đội Hòa Bình họp, Ngô Nhị Tỷ cũng tham dự, đứng ngay cạnh bí thư đại đội. Hiện tại cô đã là chủ nhiệm hội phụ nữ của đại đội Hòa Bình.
Ai cũng biết cô có quan hệ tốt với Thư ký Hứa. Từ khi thấy Đại đội trưởng đại đội Cửa Đá mang theo vợ con để tiếp cận Thư ký Hứa theo con đường gia đình, bí thư đại đội Hòa Bình cũng học theo chiêu này, đi đâu cũng đưa Ngô Nhị Tỷ đi cùng.
Ngô Nhị Tỷ giờ đã là mẹ của ba đứa con. Không còn cảnh kiếp trước người thân c.h.ế.t đói chỉ còn hai chị em nương tựa nhau, đứa em út phải coi như con đẻ nuôi nấng. Giờ đây người thân của cô đều còn sống, em út cũng đã vào trường tiểu học ven sông. Cô kết hôn với người mình yêu, ban ngày ở lại đại đội Hòa Bình đ.á.n.h cá, hái củ ấu, hạt sen, khiếm thực trên sông, tối về thôn Cao gia. Cuộc sống tuy không quá giàu có nhưng ít nhất không giống kiếp trước, thanh xuân đầy đau khổ và oán hận. Giờ cô đã là người phụ nữ trung niên, thân hình vẫn cao to rắn chắc như xưa. Nghe tin trạm thủy điện tiếp theo sẽ xây giữa đại đội Hòa Bình và đại đội Kiến Thiết, trong lòng cô vui mừng cho nhà mẹ đẻ, nhưng cũng mang tâm sự nặng nề trở về thôn Cao gia.
Cao Thuận hiện tại với thân phận đặc biệt không thể ra khỏi thôn, dù là đi bảo dưỡng hay sửa chữa thuyền bè cho người khác cũng phải rất kín tiếng.
Anh vẫn đóng thuyền ở nhà. Thấy vợ xách về một l.ồ.ng lươn và trạch, anh đưa tay đón lấy, cười nói: “Mau vào cho con b.ú đi, nó đói khóc đòi mẹ nãy giờ đấy.”
Ngô Nhị Tỷ trước đó sinh hai đứa con trai nghịch ngợm như quỷ sứ, đứa thứ ba cuối cùng cũng là con gái khiến cả nhà họ Cao mừng rơn, nhất là ông cụ Cao. Hai thằng cháu đích tôn nghịch như rết bay, không biết có phải di truyền thể chất của Ngô Nhị Tỷ không mà trèo đèo lội suối, leo cây bắt chim, không trò gì không dám làm. Mấy người lớn trong nhà quản không nổi hai thằng nhãi, mãi đến khi chúng nó bảy tám tuổi đi học tiểu học mới đỡ hơn chút.
Ngô Nhị Tỷ n.g.ự.c căng sữa nãy giờ, vội vàng chạy vào cho con gái b.ú.
Cô con gái út ban nãy còn ngoan ngoãn chơi trống bỏi với ông nội, vừa thấy mẹ về liền òa khóc nức nở. Mãi đến khi được mẹ bế vào phòng, miệng ngậm ti mới thôi khóc, nước mắt vẫn còn đọng trên mi, vừa b.ú vừa lấy tay che bầu sữa còn lại như sợ ai tranh mất.
Cao Thuận đổ lươn và trạch trong l.ồ.ng vào cái lu nước to trong bếp. Lu đã đầy một nửa, sắp đến lúc mang ra chợ đen bán rồi.
Vào phòng, thấy vợ vừa cho con b.ú vừa nói: “Hôm nay bí thư đại đội thông báo đại đội chúng ta cũng sắp xây trạm thủy điện, còn đào cả kênh mương nữa. Đợi trạm xây xong sẽ giống như đại đội Lâm Hà, sau này tưới tiêu không cần gánh nước nữa, máy bơm của trạm sẽ bơm nước sông lên trực tiếp.” Trong ánh mắt cô ánh lên niềm vui và sự ngưỡng mộ, cô cười nói tiếp: “Không biết chỗ chúng ta bao giờ mới có điện nhỉ? Nếu kênh mương mà dẫn được về đây thì tốt biết mấy.”
Dù làm chủ nhiệm hội phụ nữ nhưng cô vẫn không bỏ được nghề đ.á.n.h cá, đi đâu cũng quen mang theo vài cái l.ồ.ng sắt, lúc về tiện thể thu luôn.
Cao Thuận rót cho cô chén nước.
Cô đón lấy uống cạn. Cho con b.ú no xong, cô vừa nhẹ nhàng vỗ về cho con ngủ, vừa kéo tấm đệm hương bồ đan bằng cỏ lau ngồi xuống, tay thoăn thoắt tước những thanh tre đã chuẩn bị sẵn. Những ngón tay thô ráp nhưng linh hoạt múa lượn như bướm vờn hoa, đan những thanh tre vàng óng thành từng chiếc l.ồ.ng tinh xảo.
Thôn Cao gia nằm ở vùng gần núi, tuy là trong núi nhưng không phải núi sâu, đi bộ ra bờ sông cũng chỉ mất hơn một tiếng. Nhưng họ cũng gặp phải vấn đề chung của người miền núi: khó khăn trong việc tưới tiêu.
Vùng núi này tuy nước ngầm dồi dào, nhưng trên mặt đất chỉ có vài con suối nhỏ. Hàng ngày họ dựa vào nước suối để ăn uống, thường là chặn dòng suối lại, đào một cái hố to như cái giếng để trữ nước, rồi gánh về dùng. Giặt giũ cũng ra suối.
Nước suối đủ cho sinh hoạt hàng ngày thì không thành vấn đề, nhưng dùng để tưới ruộng thì chẳng khác nào muối bỏ bể.
Nghe vợ nói vậy, Cao Thuận cũng cười rồi trầm ngâm.
Họ đều không ngờ, chớp mắt một cái, cô gái đến đóng thuyền năm nào giờ đã ngồi vào vị trí bí thư một công xã.
“Chỗ chúng ta chắc không có điện đâu nhỉ? Chúng ta đâu có thuộc công xã Thủy Phụ, điện chắc không kéo tới đây được đâu.” Cao Thuận do dự nói.
Vị trí của họ khá tréo ngoe. Về mặt hành chính, đại đội sản xuất của họ thuộc về thành phố lân cận, nhưng về mặt địa lý lại nằm ở ranh giới giữa công xã Thủy Phụ và thành phố đó. Ngay cả Cao Thuận và Ngô Nhị Tỷ cũng nói giọng đặc sệt công xã Thủy Phụ.
Ở đây các dòng họ thông hôn qua nhiều thế hệ, vốn dĩ là nơi cư trú hỗn hợp của người hai vùng, ngôn ngữ cũng pha tạp, mạnh ai nấy nói.
Nhưng từ mười năm trước, khi nông trường cửa sông Bồ được thành lập phía trước hơn hai mươi dặm, và nông trường lao động cải tạo cửa sông Bồ lại thuộc quyền quản lý hành chính của công xã Thủy Phụ, thì các đại đội sản xuất nằm quanh cửa sông Bồ rơi vào tình thế khó xử.
Cửa sông Bồ là đất của công xã Thủy Phụ, còn họ lại thuộc về thành phố lân cận.
Cao Thuận nghĩ ngợi rồi lắc đầu: “Chuyện này khó nói lắm, chủ yếu vẫn là xem ý của Thư ký Hứa. Nếu Thư ký Hứa muốn kéo điện sang bên này thì cũng có khả năng đấy!”
Tay Ngô Nhị Tỷ vẫn không ngừng đan, miệng tiếp chuyện chồng: “Sao lại thế?”
Cao Thuận hồi nhỏ dù sao cũng được đi học đàng hoàng, kiến thức rộng hơn vợ nhiều, anh phân tích: “Chẳng phải cửa sông Bồ đã có điện rồi sao? Nếu cửa sông Bồ muốn nối lưới điện với đại đội Hòa Bình, đại đội Kiến Thiết và đại đội Lâm Hà thì đường dây có thể phải đi qua đại đội Hồng Tinh chúng ta.”
Từ cửa sông Bồ đến đại đội Hòa Bình còn cách hai đại đội sản xuất nữa. Thôn Cao gia ở vùng gần núi, cũng giống như ba thôn Thi, Hồ, Vạn của đại đội Lâm Hà, tuy nằm ở chân núi nhưng lại được quy hoạch chung vào đại đội Lâm Hà nằm ở bờ sông.
Thôn Cao gia cũng vậy, tuy nằm gần núi nhưng lại được gộp vào đại đội Hồng Tinh nằm sát bờ sông. Cách phân chia đại đội sản xuất ở vùng này cơ bản đều như thế: hai thôn bờ sông kèm theo vài thôn chân núi hoặc gần núi tạo thành một đại đội. Cách phân chia này giúp người dân vùng núi khi thiếu nước vào mùa hè có thể thông qua danh nghĩa một đại đội sản xuất thống nhất để ra bờ sông lấy nước tưới.
Nếu không, theo quan hệ làng xã trước kia, vì chuyện tranh giành nguồn nước tưới tiêu, năm nào người ta cũng đ.á.n.h nhau vỡ đầu chảy m.á.u.
Thôn Cao gia tuy ở trong núi, nhưng chỉ cần đại đội Hồng Tinh có điện thì không lý do gì lại bỏ sót họ, cũng giống như đại đội Lâm Hà có điện thì ba thôn Thi, Hồ, Vạn dưới chân núi cũng sẽ có điện vậy.
Cao Thuận nhìn vợ đan l.ồ.ng tre không nói gì, im lặng một lát rồi bảo: “Anh vừa xem lu lươn nhà mình cũng được nửa lu rồi, sắp đến lúc mang đi đổi đồ. Mấy hôm nữa em mang lươn và trạch ra sông lớn đổi dầu muối thì tiện thể mang biếu Thư ký mấy con. Con gái út nhà Thư ký cũng chỉ kém con bé Hồng Tinh nhà mình mấy tháng thôi nhỉ? Ăn lươn tốt lắm đấy.”
Lươn có tác dụng thông sữa, rất tốt cho phụ nữ đang cho con b.ú.
Họ không biết Hứa Minh Nguyệt vì công việc bận rộn nên đã cai sữa cho con, cứ tưởng con gái cô nhỏ hơn con mình vài tháng nên chắc vẫn đang b.ú mẹ.
Ngón tay Ngô Nhị Tỷ vẫn thoăn thoắt luồn lách giữa những nan tre, trầm mặc hồi lâu mới nói: “Thư ký thích ăn tôm sông hơn.”
Mối quan hệ giữa cô và Hứa Minh Nguyệt, luôn là Hứa Minh Nguyệt chủ động quan tâm, tặng đồ cho cô, còn cô luôn là người thụ động đáp lễ.
Người xung quanh đều bảo cô có quan hệ tốt với Thư ký Hứa. Thực ra chỉ mình cô biết, chẳng hiểu vì lý do gì mà cô lọt vào mắt xanh của Thư ký Hứa. Cô ấy khi thì tặng quần áo, sữa bột cho con cô, khi thì tặng thịt, tặng áo bông ấm cho cô. Những gì cô có thể đáp lễ lại chỉ là dăm ba mớ tôm cá, lươn trạch đ.á.n.h bắt được mà thôi.
Nhưng từ khi đại đội Lâm Hà có trại nuôi cá riêng, cuối năm nhà nào cũng được chia mấy trăm cân cá, chút tôm cá của cô càng trở nên chẳng đáng là bao.
Cao Thuận như nhớ lại cảnh tượng lần đầu gặp Hứa Minh Nguyệt, cười nói: “Vậy thì mang chút tôm sông qua, lươn cũng mang một ít. Anh nhớ hồi đó cô ấy đến đặt đóng thuyền cũng là do em dẫn đến. Cũng lâu rồi không gặp cô ấy.”
