Gả Vào Hầu Môn - Chương 24: Chuyện Năm Đó
Cập nhật lúc: 25/06/2026 06:04
Đêm rằm tháng Mười, giờ Tuất nhị khắc.
Đây vốn chẳng phải là lúc nên ra khỏi cửa, vậy mà Minh Di vẫn khoác áo chỉnh tề, ôm lò sưởi tay, bước ra khỏi Trường Xuân đường.
Quản gia chờ ở cửa thấy nàng cùng Thanh Hòa vòng qua hành lang thì giật thót mình:
“Trễ thế này rồi, thiếu phu nhân còn định ra ngoài ư?”
Đêm nay trời đổ tuyết, mà thiếu phu nhân lại không có thân thích hay bạn bè trong kinh — giờ này mà ra ngoài, thật khiến người ta lo lắng.
Nhưng tính Minh Di là thế: ôn hòa thì ai cũng quý mến, mà đã cứng rắn thì chẳng ai dám nói nửa lời phản đối.
Nàng không liếc ngang dọc, chỉ thản nhiên nói:
“Chuẩn bị xe ngựa.”
Thấy dáng vẻ nàng đã quyết, quản gia chẳng dám nói thêm, vội sai người dắt xe riêng của thiếu phu nhân ra, gọi thêm vài thị vệ và bà hầu đi cùng.
Tiễn xe ngựa đi xa rồi, quản gia vẫn thấy bất an, liền quay người đi về Sơn Thạch viện.
Đến cổng viện, vừa đứng dưới bậc thềm, tuyết bay mịt mù che mắt, ông ta gọi với lên hiên:
“Gia chủ có ở thư phòng không?”
Thẩm Kỳ đang ngồi trên hành lang bóc hạt dưa, chẳng buồn đứng dậy, vừa nhai vừa hỏi:
“Có việc gì?”
Quản gia cười khổ:
“Vừa rồi tôi thấy thiếu phu nhân hấp tấp ra ngoài, nên tới báo lại cho gia chủ một tiếng.”
Lông mày Thẩm Kỳ hơi nhướng, hiểu ra ngay, thong thả đáp:
“Thiếu phu nhân còn dám xông cả vào hoàng cung, thì ra cửa đêm một chút có là gì đâu. Lão nên bớt lo chuyện thiên hạ đi thì hơn.”
Quản gia tức đến mức ngửa cổ thở dài, khẽ mắng:
“Ngươi tưởng ta muốn xen vào chuyện chủ t.ử sao? Ta lo lỡ có chuyện gì, gia chủ trách xuống thì ta gánh sao nổi.”
Thẩm Kỳ hiểu, lại bỏ thêm hạt lạc vào miệng, chỉ tay về phía chính viện:
“Đáng tiếc, gia chủ đang cùng Tề đại nhân bàn việc triều chính, không cho ai đến gần. Tin này giờ ta chẳng thể chuyển vào được. Dù sao người của ngươi cũng theo sau thiếu phu nhân rồi, chắc không sao. Đợi lát nữa gia chủ rảnh, ta sẽ báo lại.”
Quản gia không nói thêm. Ông chỉ có nhiệm vụ chuyển tin đến Sơn Thạch viện, chuyện sau đó chẳng thuộc phần mình, liền quay về cổng.
Thẩm Kỳ nhìn theo bóng ông một cái, rồi ngoảnh đầu nhìn về thư phòng.
Trong Đông thư phòng, đèn vẫn sáng rực, hai tiểu đồng hầu trà đều bị cho lui ra ngoài, chẳng ai dám tới gần — đủ biết chuyện mà gia chủ đang bàn với Tề Tuấn Lương không tầm thường chút nào.
Không có người hầu, Bùi Việt tự mình cúi nhặt chén trà vỡ dưới đất, ném vào giỏ rác bên cạnh — tính hắn ưa sạch sẽ, trong tầm mắt tuyệt không dung thứ sự bừa bãi.
Tề Tuấn Lương vẫn chưa hoàn hồn, ngồi phịch xuống ghế, run giọng hỏi:
“...Còn sống sao? Hắn thật sự phản sang Bắc Yên ư?”
“Đó chẳng phải là Bắc Định hầu sao… Đại Tấn ta nổi danh nhất ở biên cương…”
Hắn lắp bắp, rồi yếu ớt dựa lưng vào ghế, nước mắt chảy ròng.
Trong Đại Tấn, có bốn vị quân hầu danh chấn thiên hạ:
Viễn Sơn hầu Tiêu Trấn, Tĩnh Tây hầu Lương Cẩn Trung, Bình Xương hầu Vương Kiêu, và cuối cùng — Bắc Định hầu Lý Tương.
Trong số ấy, thân phận của Lý Tương cao quý nhất: em gái ruột của ông chính là Hoàng hậu đương triều, dòng dõi nhà họ Lý ở Long Tây, thế gia hiển quý, con cháu văn võ đều hưng thịnh.
Bắc Định hầu Lý Tương vốn đỗ Tiến sĩ, tinh thông binh pháp.
Năm xưa Bắc Yên nam tiến, ông đang làm Lang trung bộ Binh, liền thân chinh ra tiền tuyến, từ đó dấn thân vào con đường võ tướng,
trấn thủ biên cương suốt hai mươi lăm năm, là đối thủ quen mặt nhất của Nam Tĩnh vương Bắc Yên.
Khi Nam Tĩnh vương hùng bá một phương, cũng chính Lý Tương là người gánh đỡ biên ải, không chịu mất một tấc đất.
Song, nếu luận chiến công, Lý Tương vẫn khó bì được với Nam Tĩnh vương — vị vương ấy binh phong như chẻ tre, gần như chưa từng bại trận,
là bóng mây u ám bao trùm đầu các tướng Đại Tấn và Bắc Tề… cho đến khi con trai của Lý Tương – Lý Lận Chiêu xuất hiện.
Từ nhỏ theo cha ở biên ải, Lý Lận Chiêu hành sự phóng khoáng, võ nghệ cứng cỏi.
Mới bảy, tám tuổi đã theo phụ thân ra trận, nắm rõ đường đi nước bước của Nam Tĩnh vương.
Mười ba tuổi, hắn vượt núi tấn công bất ngờ, lập công đầu tiên.
Đến năm mười lăm tuổi, lần đầu chính diện giao chiến với Nam Tĩnh vương mà không thua —từ đó danh tiếng lan xa, trở thành tân tinh tướng nơi biên cương.
Cha giỏi thủ, con giỏi công —hai cha con họ Lý phối hợp ăn ý, dựng nên một Trường thành thép vững chãi cho Đại Tấn.
“Thế mà bức tường sắt ấy, ba năm trước lại tan nát trong chớp mắt…”
Mỗi khi nhắc đến trận Túc Châu năm ấy, triều đình đều tiếc hận khôn nguôi.
Bùi Việt nghe Tề Tuấn Lương kể, chỉ trầm giọng tiếp lời:
“Năm ấy, mùa đông, Nam Tĩnh vương đã oán hận cha con nhà họ Lý từ lâu, bèn mưu kế hiểm độc —
ngầm câu kết với Bắc Tề, hứa cho lợi lớn. Thế là kẻ thù xưa bỗng thành liên quân, bí mật kéo quân xuống phía nam,
mũi giáo chĩa thẳng về Tuyên phủ, dọa kinh thành.”
“Thấy thế, Lý Tương lập tức điều ba vạn tinh binh từ sáu vạn quân Túc Châu đi cứu viện Tuyên phủ.”
“Nhưng nào ngờ, Nam Tĩnh vương dùng kế ‘thanh đông kích tây’, đem quân Bắc Tề giả vờ tấn công Tuyên phủ, mà mục tiêu thực sự lại là Túc Châu.
Hắn hiểu rõ Tuyên phủ là cánh cửa phía bắc của kinh thành Đại Tấn —một khi Tuyên phủ gặp nguy, toàn bộ biên quân sẽ phải điều đi cứu viện.
Vì vậy, khi quân Túc Châu vừa rời đi, Nam Tĩnh vương đích thân dẫn bảy vạn đại quân, chớp nhoáng tấn công Túc Châu, như sấm sét không kịp bịt tai.”
“Lúc ấy, trong thành Túc Châu chỉ còn lại ba vạn quân. Để ngăn thế quân Bắc Yên tràn xuống phía nam, chủ soái Lý Tương lập tức điều hai vạn tinh binh xuất thành nghênh chiến.
Nói ra cũng lạ — trước nay, việc xuất kích vẫn luôn do Lý Lận Chiêu đảm nhiệm, vậy mà lần ấy, chẳng hiểu vì sao Hầu gia Lý lại tự mình treo ấn ra trận.
Đáng tiếc, binh lực quá chênh lệch, cục diện nhanh ch.óng bất lợi.
Thấy thế, Lý Lận Chiêu liền điều tám nghìn quân đ.á.n.h tạt sườn trái, còn bản thân chỉ giữ lại hai nghìn thân binh cùng bốn nghìn già yếu bệnh tàn trấn thủ trung quân.”
“Nhưng Nam Tĩnh vương quả thật là kẻ gian xảo. Trong lúc tự mình cầm binh dây dưa với Lý Tương, hắn lại âm thầm điều ba vạn quân, đ.á.n.h thẳng vào trung quân — mục đích chỉ có một: lấy đầu Lý Lận Chiêu!”
“Đó là một cục diện c.h.ế.t chắc!”
Tề Tuấn Lương giọng đầy cảm khái:
“Nhưng đó cũng là một trận liên quan đến vận mệnh quốc gia. Một khi Bắc Yên phá được phòng tuyến Túc Châu, biên giới tây bắc của Đại Tấn sẽ rách toang một lỗ,
đại quân Bắc Yên sẽ như tre nứt mà tiến, từ cao nhìn xuống có thể uy h**p Thái Nguyên, kinh đô, thậm chí thuận thế đ.á.n.h chiếm Trường An, Lạc Dương, rồi cả vùng Giang Nam…”
‘Một bước cũng không thể lùi!’
Hắn vẫn nhớ năm ấy, tại triều nghị, thiếu tướng quân Lý Lận Chiêu hiếm hoi về kinh, thay mặt quân Túc Châu cầu xin triều đình cấp lương:
“Túc Châu tuy là biên địa, nhưng cũng là cửa ngõ của Đại Tấn.
Một khi bị địch phá vỡ, cả Đại Tấn sẽ nguy. Cho nên, bệ hạ, một bước cũng không thể lui, một đấu quân lương cũng không thể thiếu!”
“Và hắn đã làm được!”
Nói đến đây, Tề Tuấn Lương nắm c.h.ặ.t t.a.y, nước mắt tràn ra:
“Đông Đình, ngươi có nghĩ không — nếu hắn không phải mưu trí tuyệt luân, làm sao có thể dùng sáu nghìn lão binh tàn tướng, mà g.i.ế.c được ba vạn tinh nhuệ của đối phương?
Đó là đội quân kiêu hùng nhất của Nam Tĩnh vương, vì muốn g.i.ế.c Lý Lận Chiêu mà hắn đã đem quân bài tẩy của mình ra đ.á.n.h cược!”
“Thế mà vị thiếu tướng quân ấy lại cứng rắn đến mức đ.á.n.h cho Nam Tĩnh vương thổ huyết ngay trong đại trướng, thậm chí buộc hắn phải điều cả già yếu tàn binh nơi biên thành Bắc Yên ra tiền tuyến…”
Trận Túc Châu năm ấy, Lý Lận Chiêu lấy ít địch nhiều, đã trở thành một thần thoại không thể sánh trong lịch sử chiến tranh.
Người ngoài không hiểu sao chiến công của hắn lại lẫy lừng đến thế, nhưng Bùi Việt thì biết — vì hắn đã dùng đến một món bảo vật vô song trên đời.
Bùi Việt lặng đứng trước án thư, ngón tay trắng trẻo khẽ gõ mặt bàn, ánh mắt nghiêm nghị hướng ra đêm đen ngoài cửa sổ:
“Đó quả thật là một trận chiến vì quốc vận. Lý Lận Chiêu… đã giữ được vận mệnh của Đại Tấn.”
Tề Tuấn Lương xúc động đứng bật dậy:
“Hắn dùng tính mạng mình để đổi lấy quốc vận thịnh vượng của Đại Tấn!”
“Đó vốn dĩ phải là một trận danh lưu sử sách, nhưng ai ngờ… lại kết cục như vậy.”
Khi trung quân của Lý Lận Chiêu đang ác chiến, mặt chính diện do Lý Tương trấn giữ cũng đã nguy kịch.
Lý Tương vốn là nho tướng, kiên nhẫn bền gan, cứng rắn dùng hai vạn binh lực cầm cự, mua thời gian cho các chiến tuyến khác,
nhưng cuối cùng quân địch quá đông, bị Nam Tĩnh vương ép đ.á.n.h thua từng bước, cho đến khi Lý Lận Chiêu ở tuyến giữa xoay chuyển được thế trận.
“Thế nhưng lúc ấy lại xảy ra chuyện ngoài ý muốn… Đáng ra là lúc nên truy kích kẻ thù, thì Lý Hầu bỗng thả cho đối phương một vạn quân,
rồi lấy cớ ‘nghị hòa’, tự mình tiến vào doanh trại Bắc Yên — từ đó biệt vô âm tín.”
“Có kẻ nói ông ta phản quốc, có kẻ nói ông ta bất mãn vì hoàng thượng chậm lập Thất hoàng t.ử làm thái t.ử, nên nuôi hổ mong tự trọng, thả sói về rừng.”
“Lời đồn cứ thế lan tràn, ngay cả quân Túc Châu cũng vì ông ta mà bị mang tiếng ô nhục.”
“Tiếc thay… họ đều c.h.ế.t cả rồi. Ngoài ba vạn viện binh cứu Tuyên phủ, toàn bộ ba vạn tướng sĩ Túc Châu còn lại đều t.ử trận.
Lý Tương sau khi vào doanh Bắc Yên thì mất tích không dấu vết, ngay cả tên ông ta cũng trở thành điều cấm kỵ lớn nhất ở kinh thành.
Chân tướng năm đó, rốt cuộc ra sao —đến nay vẫn là bí ẩn ngàn năm.”
Căn thư phòng chìm trong im lặng dài dằng dặc. Không ai ngồi xuống, cũng không ai nói thêm lời nào.
Mãi một lúc lâu sau, Tề Tuấn Lương khẽ thở dài:
“Dù thế nào đi nữa, ba vạn quân Túc Châu ấy đã dùng thịt xương mình để chặn giặc ngoài cửa ải!”
“‘Đáng thương thay, cốt người bên sông Vô Định, vẫn là kẻ trong mộng chốn khuê phòng…’
Mà nói mới nhớ — hôm nay, Tạ Như Vận đ.â.m bị thương A Nhĩ Nạp, nói là để báo thù cho vị hôn phu của nàng đó…”
Tuyết rơi lác đác, phủ lên cành cây, rơi xuống đường phố, rồi lại vương trên đầu mày Minh Di.
Nàng ngồi một mình trong gian nhã thất của quán mì phía tây bắc, lặng lẽ nhìn ra kinh đô mênh mang ngoài cửa sổ.
Đêm nay tuyết giống hệt trận tuyết năm nào trên thành Túc Châu — chỉ một lớp mỏng phủ lên tường thành, phản chiếu ánh đèn muôn nhà như cát bạc, chẳng thấy lạnh mà lại có phần ấm áp.
Đông T.ử khi ấy lại chẳng ưa tuyết, bị nàng gọi ra xem, hừ mấy tiếng đầy chán ghét:
“Tuyết thì có gì hay, đâu phải hoa. Vẫn là Vân Châu của chúng ta tốt hơn, chẳng nóng chẳng lạnh. Chứ cái kinh thành quỷ quái này, gió như d.a.o, tạt vào mặt đau rát cả lên.”
Hiểu Thần huynh ngồi trên nắp giếng giữa sân, cười ôn hòa nhìn đêm tuyết mịt mờ:
“So với tuyết khô ở Túc Châu, tuyết ở quê ta — Dư Hàng — mới thực đẹp. Mỗi lần tuyết rơi, mặt hồ Tây đóng băng, cảnh quanh hồ trắng xóa như băng điêu ngọc khắc, tựa một tòa thành tuyết, đẹp vô cùng.”
Hồi đó nàng từng nghĩ, đẹp không phải là tuyết — mà là dáng hình quê hương trong ký ức mỗi người.
Nhưng nàng lại yêu Túc Châu. Nàng lớn lên ở Túc Châu,
“Ta thích biên ải Túc Châu, ra khỏi ải là sa mạc mênh m.ô.n.g và thảo nguyên vô tận, ở đó có thể uống rượu thỏa lòng, cưỡi ngựa tung hoành… mới xứng là nơi dựng công lập nghiệp.”
Nếu không có những người họ canh giữ nơi này, làm gì có cảnh Tây Hồ hữu tình, làm gì có Vân Châu xuân ấm bốn mùa.
Nàng không sợ sương lạnh, càng chẳng ngại tuyết rơi.
Bởi… cái lạnh thật sự, là lòng người.
========================================================================================================================
