Hiền Huệ - 1
Cập nhật lúc: 27/09/2026 05:11
Từ nhỏ ta đã lập chí làm một người phụ nữ hiền huệ.
Cha ta thường nói: “Nữ nhân nếu không thể để nam nhân trong nhà an hưởng thanh phúc, vậy là đã mất bổn phận của nữ nhân.”
Ta ghi câu ấy thật sâu trong lòng.
Năm ta mười ba tuổi, Lâm Châu đại hạn, trong nhà cạn lương.
Ta không nỡ để cha cùng ta và mẫu thân chịu đói, bèn nghĩ ra một cách vẹn cả đôi đường.
Ta bán ông vào Nam Phong quán hưởng phúc.
Ta lại phải làm hiền thê rồi
Cha ta, Liễu Hữu Phúc, thuở trẻ sinh ra cũng khá tuấn tú, lại từng đọc sách hai năm.
Tuy đến sổ sách cũng không xem hiểu, ông lại rất thích dạy ta và mẫu thân cách làm nữ nhân.
Trong nhà chỉ còn một bát cháo, ông nói nam nhân là chủ một nhà, đương nhiên phải ăn trước.
Mẫu thân làm cả ngày trong tiệm t.h.u.ố.c, nhặt d.ư.ợ.c liệu cho người ta mới đổi được hai quả trứng, ông cũng phải lấy một quả, nói nữ nhân trời sinh ăn ít.
Năm Lâm Châu đại hạn, lúa mì ngoài ruộng còn chẳng mọc qua mu bàn chân.
Ta và mẫu thân đào rau dại suốt nửa tháng, cha ta cuối cùng cũng quyết định làm một việc lớn cho cái nhà này.
Ông nhận của mụ môi giới hai lượng bạc, đồng ý chờ ta tròn mười bốn tuổi sẽ đưa ta cho thương nhân lương thực họ Tôn ở phía tây thành làm thiếp.
Lão Tôn kia năm mươi sáu tuổi, trước đó đã c.h.ế.t ba người đàn bà.
Mẫu thân quỳ xuống đất cầu ông trả bạc lại.
Ông nhét bạc vào n.g.ự.c áo, nói như thể rất có lý: “Nó sang đó có cơm ăn, vẫn hơn cả nhà ba miệng cùng c.h.ế.t đói.”
“Nữ nhân sinh ra vốn phải lấy chồng, ta chọn cho nó một nhà giàu, chẳng lẽ còn sai sao?”
Ta đứng ngoài cửa nghe xong, cảm thấy ông nói cũng có lý.
Nếu trong nhà chỉ nuôi nổi hai người ăn cơm, đương nhiên phải để nam nhân ra ngoài hưởng phúc trước.
Ngày hôm sau, ta vào thành tìm đến Nam Phong quán.
Đường nương t.ử, chủ quán, nghe nói ta muốn bán cha thì nhìn ta thật lâu rồi hỏi ông có bản lĩnh gì.
“Biết ăn, biết uống, biết dạy dỗ nữ nhân.”
“Hồi trẻ từng hát vài tiểu khúc, tướng mạo cũng tạm coi được.”
Đường nương t.ử cười suýt phun cả trà ra ngoài.
Nam Phong quán không mua người lai lịch không rõ, nhưng đúng lúc thiếu một sai vặt biết chữ, biết hát.
Trong quán ứng trước tám lượng tiền công, đổi lấy một khế ước năm năm.
Nếu chính người đó tự nguyện điểm chỉ thì được bao ăn bao ở, còn không nguyện ý thì chẳng ai được cưỡng ép.
Ta về nhà nói với cha rằng trong thành có một đại quán đang mời tiên sinh biết chữ, không những bao cơm mà còn đưa trước tám lượng bạc an gia.
Lúc theo Đường nương t.ử đi, ông ngẩng đầu rất cao.
Mãi đến khi nhìn thấy tấm biển xanh của Nam Phong quán, ông mới biết học trò mình sắp dạy chẳng phải hạng đứng đắn gì.
Trên khế ước giấy trắng mực đen ghi rõ “sai vặt trong quán”, là chính ông đọc, chính ông điểm chỉ.
Ông muốn đổi ý, Đường nương t.ử liền đặt tám lượng bạc lên bàn: “Trả tiền, bây giờ ngươi có thể đi.”
Cha ta quay đầu nhìn ta.
Ta đã trả hai lượng cho mụ môi giới, số bạc còn lại giao cho mẫu thân mua lương thực.
“Cha,” ta khuyên ông, “cha vẫn luôn nói để nam nhân an hưởng thanh phúc là bổn phận của nữ nhân.”
“Trong Nam Phong quán toàn là nam nhân tới hưởng phúc, cha hầu hạ họ cho tốt, cũng coi như thay rất nhiều nữ nhân san sẻ nỗi lo.”
Cha ta tức đến muốn đ.á.n.h ta, nhưng bị hộ viện trong quán ngăn lại.
Sau đó ông nhờ người gửi về rất nhiều thư, lúc thì nói hát khúc mất mặt, lúc lại nói bổ củi đau lưng.
Ban đầu mẫu thân còn rơi nước mắt, mãi đến khi bà lục thấy tờ hồng thiếp của thương nhân họ Tôn trong áo đông của cha ta, từ đó không nhắc chuyện chuộc người nữa.
Nam Phong quán cũng không giữ sạch tiền công của ông.
Hát hay, dỗ khách vui vẻ đều có bạc thưởng.
Hai năm đầu ông từng để dành được năm lượng, chỉ còn thiếu ba lượng là đủ chuộc khế, vậy mà lại mang tới sòng bạc đ.á.n.h một đêm.
Thua sạch tiền xong, ông trách Đường nương t.ử trả công quá ít, rồi chủ động ký thêm ba năm khế.
Mẫu thân nghe chuyện, chỉ nói một câu: “Có những cái phúc, không để ông ấy hưởng cho đủ thì ông ấy chẳng nỡ trở về.”
Tám lượng bạc ấy giúp chúng ta vượt qua năm thiên tai.
Mẫu thân vốn từng làm trong tiệm t.h.u.ố.c mười năm, nhận biết được những d.ư.ợ.c liệu thường dùng.
Ban đầu chúng ta bày sạp bán canh trừ hàn, sau đó thuê một tiệm nhỏ, phối vài loại t.h.u.ố.c rẻ cho những người nghèo mắc bệnh nhẹ nhưng không đủ tiền mời đại phu.
Mẫu thân phân biệt d.ư.ợ.c liệu, ta ghi sổ sách.
Mười năm sau, biển hiệu “Dược hành Xuân Hòa” đã treo khắp ba huyện thuộc Lâm Châu.
Ta cũng từ Liễu Xuân Nương biến thành Liễu thiện nhân trong miệng mọi người.
Những năm ấy, ta từng phát t.h.u.ố.c miễn phí, cũng từng dựng lều phát cháo.
Nhà ai có mẹ chồng lâm bệnh, góa phụ nào không có tiền mai táng, chỉ cần tìm tới cửa, giúp được ta đều giúp.
Người ngoài đều nói cha ta tuy chẳng nên thân, lại nuôi được một đứa con gái hiền lương chẳng ai bằng.
Chỉ có mẫu thân biết, ta thích thanh danh này không phải vì nó dễ nghe.
Bạc có thể mua đường, thanh danh có thể khiến người khác chủ động mở cửa cho ngươi.
Có lúc thứ sau còn rẻ hơn thứ trước.
Lần đầu d.ư.ợ.c hành vận t.h.u.ố.c vào kinh, quan giữ cổng thành vốn định giữ xe lại.
Nghe nói chủ xe là Liễu Xuân Nương từng phát cháo trong năm thiên tai, ông ta chỉ mở hai hòm trên cùng xem qua rồi cho đi.
Ngày ấy ta hiểu ra, lời khen người khác đưa tới không cần từ chối.
Cứ nhận lấy cho tốt, sau này luôn có lúc dùng được.
Năm mười tám tuổi, ta gả cho Chu Hoài Sinh.
Hắn là thư sinh nghèo lớn lên cùng ta.
