Hoa Lựu Nở Bên Hiên Nhà - 09
Cập nhật lúc: 18/09/2026 04:05
Tôi ghi nhớ cái tên ấy, ghi nhớ suốt mười ba năm, bây giờ cuối cùng tôi cũng tự mình đến đây.
...
Xe tải chạy suốt một ngày một đêm mới đến huyện thành. Sau đó đổi sang máy kéo, xóc nảy thêm nửa ngày.
Đoạn đường cuối cùng phải đi bộ, bởi đường núi quá hẹp, xe không vào được.
Chúng tôi vác hành lý đi hơn bốn tiếng.
Khi rừng trúc xanh ngắt trải dài khắp núi đồi cùng từng thửa ruộng bậc thang nối tiếp nhau xuất hiện trong tầm mắt.
Tôi dừng bước.
Dưới chân là đất bùn mềm, không phải cát mặn kiềm. Trong không khí có mùi ẩm ướt của lá cỏ và đất, không phải thứ khô khốc của gió cát quất vào mặt. Núi phía xa xanh ngắt, trời xanh trong, dòng suối róc rách chảy dưới chân núi.
Tôi hít thật sâu.
Lồng n.g.ự.c tràn đầy thứ không khí ẩm mát mang theo hương cỏ xanh, không có vị đắng của cỏ kiềm, không có vị chát của muối kiềm.
Không có gì cả, chỉ có mùi vị của sự sống.
Đường Quế Hương phía sau cũng dừng lại.
“Wow! Nơi này đẹp quá đi mất!”
Điểm thanh niên trí thức được bố trí trong một dãy nhà cũ xây bằng đá ở đầu làng, nam nữ ở riêng.
Tường quét vôi trắng, trước cửa trồng hai cây hồng, trên cành đang treo đầy những quả hồng xanh nặng trĩu.
Trưởng thôn tên Trần Mãn Thương, hơn năm mươi tuổi, mặt đen sạm, giọng sang sảng, cười lên để lộ hàm răng trắng.
“Hoan nghênh các đồng chí thanh niên trí thức! Đã đến Khê Trúc Lĩnh thì chính là người của Khê Trúc Lĩnh! Có gì không hiểu cứ hỏi, có khó khăn cứ nói! Chỉ cần không lười biếng ham ăn, ở chỗ tôi đảm bảo các cô cậu không c.h.ế.t đói!”
Chỉ một câu đã khiến phân nửa sự căng thẳng của đám thanh niên thành phố vơi đi.
Tối đầu tiên, các thanh niên trí thức ngồi quây quanh sân ăn cơm. Món ăn đều là đặc sản địa phương, cải xanh xào đậu phụ, củ cải muối, một nồi cháo ngũ cốc lớn.
Gạo là gạo thật, không phải nước nấu từ cỏ kiềm. Trong món ăn có váng dầu, cháo đặc sánh.
Tôi bưng bát, ăn từng miếng một, ăn rất chậm, mỗi miếng đều lưu lại thật lâu trên đầu lưỡi.
Mười ba năm trên vùng đất mặn kiềm đã dạy tôi một điều rằng phải biết trân trọng từng miếng thức ăn.
Đường Quế Hương bên cạnh ăn ngấu nghiến, ăn hết một bát vẫn muốn múc thêm.
“Cháo này ngon quá!”
“Ngon thì ăn thêm đi.”
“Vân Chi, sao cậu ăn chậm thế?”
“Tớ đang thưởng thức mùi vị của việc còn sống thôi.”
“… Cậu vừa nói gì ấy?”
“Không có gì đâu. Múc thêm bát nữa đi.”
11.
Ba tháng đầu, tôi giống bao thanh niên trí thức khác, xuống ruộng làm việc, kiếm công điểm.
Cấy lúa, gặt lúa, nhổ cỏ, cuốc đất, gánh nước tưới rau.
Phần lớn thanh niên trí thức từ thành phố đến đều than vãn từ sáng đến tối, tay phồng rộp, cả ngày cúi lưng đến mức không thể duỗi thẳng.
Tôi chưa từng than một tiếng khổ, không phải cố tỏ ra mạnh mẽ, mà thật sự tôi không cảm thấy khổ.
So với mười ba năm đào kênh kiềm trên vùng đất mặn, âm ba mươi độ, một nhát cuốc bổ xuống tầng đất đóng băng chỉ có thể để lại một vệt trắng thì trồng lúa nước chẳng đáng là bao.
Làm việc được một tháng, trưởng thôn Trần Mãn Thương gọi tôi sang một bên: “Thanh niên trí thức Thẩm, cô không giống người từ thành phố đến nhỉ. Tay nghề nhanh nhẹn đấy.”
“Tôi chịu được khổ.”
“Chịu được khổ là tốt. Thôn chúng tôi thiếu nhất chính là người chịu khó.”
Ông vỗ vai tôi, mạnh đến mức tôi suýt ngã: “Cố gắng làm nhé!”
Nửa năm sau, bác sĩ Lục ở trạm y tế thôn tìm đến tôi.
Bác Lục hơn sáu mươi tuổi, tóc hoa râm, lưng còng, đi đứng lúc nào cũng chậm rãi, nhưng đôi mắt thì sáng quắc. Ông là bác sĩ duy nhất trong thôn. Trong phạm vi mười dặm, người bệnh, người bị thương, người sinh con, tất cả đều dựa vào một mình ông.
“Con bé, nghe nói cháu biết nhiều chữ lắm hả?”
“Dạ biết.”
“Đọc được đơn t.h.u.ố.c không?”
“Dạ được.”
Ông lấy từ túi vải ra một cuốn Sổ tay bác sĩ chân đất đã nhàu nát, cùng một bản với cuốn tôi “mượn” ở thư viện.
“Đọc cho bác nghe một đoạn.”
Tôi nhận lấy, lật đến chương “Phòng ngừa và điều trị các bệnh truyền nhiễm thường gặp”, đọc một đoạn thật rõ ràng.
Bác Lục nghe xong, vỗ đùi: “Tốt! Cháu theo bác học!”
“Vì sao?”
“Bác sáu mươi ba rồi, tay run, mắt mờ, cũng chẳng làm được thêm mấy năm nữa. Phải có người kế nghiệp chứ? Trước đây bác cũng từng dạy mấy đứa, đứa nào học hai ngày thì bỏ ba ngày, chẳng nên cơm cháo gì. Nhưng cháu thì khác.”
“Khác chỗ nào ạ?”
“Tay cháu vững.”
Tay vững.
Đúng vậy.
Trong căn nhà đất ở vùng đất mặn kiềm, tôi từng thay t.h.u.ố.c cho cha đang sốt bốn mươi độ, cửa sổ hở gió, ngọn đèn dầu lúc sáng lúc tối, tay run thì t.h.u.ố.c đổ, mà đổ rồi sẽ không có chai thứ hai.
Đôi tay được rèn nên trong hoàn cảnh ấy, sao có thể không vững?
Kỹ năng tôi học được ở kiếp trước để chăm sóc những người không biết cảm kích, kiếp này tôi muốn dùng nó vào nơi xứng đáng.
“Bác Lục, cháu học.”
12.
Từ ngày đó, ban ngày tôi đi khám bệnh, bốc t.h.u.ố.c, theo bác Lục học nhận biết d.ư.ợ.c liệu và châm cứu; tối đến lại dưới ánh đèn dầu học thuộc sách t.h.u.ố.c.
Bác Lục đem toàn bộ gia tài mà ông vốn không nỡ cho ai xem ra.
