Khúc Giang Phùng Xuân - Chương 1
Cập nhật lúc: 05/10/2026 05:16
GIỚI THIỆU:
Gả cho Kỷ Sơn Đình ba mươi năm, hắn chưa từng dành cho ta nửa phần ấm áp.
Thậm chí sau khi ta qua đời, cũng chỉ nhận được một tấm bia không chữ.
Hắn nói, lúc sinh thời ta và hắn vốn đã nhìn nhau sinh chán ghét, còn có lời gì chưa nói hết nữa đâu.
Thế nhưng trên bia mộ của người hắn yêu nhất, hắn lại tự tay khắc xuống vô số lời yêu thương.
Sống lại một đời, ta trở về bến đò Qua Châu năm mười tám tuổi.
Người lái đò giục ta: “Khúc Giang, mau lên thuyền đi, phải kịp qua Bắc cảnh trước khi bến đò đóng băng, nếu không sẽ chẳng tìm được phu quân của cô đâu.”
Ta lắc đầu với người lái đò, xoay người bước lên chiếc thuyền khách đi về Nam Hương.
Bắc cảnh khiến ta lệ rơi như mưa, từ nay ta chỉ hướng về Nam Hương mà đi.
01
Trước khi ý thức dần tan, ta vẫn nắm c.h.ặ.t t.a.y A Man, trong mắt đầy lưu luyến.
A Man khóc như mưa: “Vương phi, người cố đợi thêm chút nữa, Vương gia sắp về rồi.”
Nhưng ai cũng biết, Kỷ Sơn Đình sẽ không trở về nữa.
Vương phủ đã phái hết tốp người này đến tốp người khác, nhưng tất cả đều tay trắng quay về.
Nghe tin Vương phi bệnh nặng, sắc mặt Vương gia chẳng hề thay đổi, vẫn tiếp tục săn b.ắ.n trên Bắc Nguyên.
Cho tới lần cuối cùng, Kỷ Sơn Đình sa sầm mặt.
Hắn rút bội kiếm, c.h.é.m xuống một đoạn cành liễu khô, ném trước mặt người tới báo tin.
Giọng hắn lạnh lẽo:
“Chẳng phải sắp c.h.ế.t rồi sao? Bổn vương ban cho nàng một tấm bia, đừng tới quấy rầy nữa.”
Liễu khô là loại gỗ rẻ mạt, trừ những kẻ không nhà không cửa, bằng không chẳng ai dùng nó làm bia mộ.
Nói xong, Kỷ Sơn Đình mang theo đôi chim nhạn vừa săn được, thúc ngựa phi nhanh về phía mộ phần của Tống Dao Chước.
Từ sau khi Tống Dao Chước qua đời, năm nào Kỷ Sơn Đình cũng săn một đôi nhạn mới cho nàng, chưa từng bỏ sót.
Tên thị tòng ôm đoạn gỗ liễu khô ấy, lặng lẽ rơi một hàng nước mắt.
Sau khi trở về phủ, hắn không dám tới bẩm báo với ta, đành cùng những người khác giấu ta.
Bọn họ nói Kỷ Sơn Đình bị tuyết lớn cản đường, mắc kẹt trong núi, nhất thời chưa thể trở về.
Nhưng lúc này Bắc cảnh mới đầu tháng bảy, sao có thể có tuyết được?
Ta biết bọn họ có ý tốt, nên cũng giả vờ như không biết.
Thật ra, ta thực sự đã không còn để tâm nữa.
02
Ngoảnh lại những năm tháng đã qua, giữa ta và Kỷ Sơn Đình dường như chưa từng có lấy một ngày tốt đẹp.
Ta là nữ nhi của Tiền Đường Vương ở Trung Nguyên, gia thế hiển hách nhưng trong nhà lại ít người.
Khi ấy triều đình phe phái tranh đấu gay gắt, phụ thân lúc lâm chung sợ ta trở thành quân cờ để kẻ khác lợi dụng trèo cao, nên đã cầu cho ta một mối hôn sự.
Người được định hôn là Thế t.ử Bắc Cảnh hầu Kỷ Sơn Đình.
Phụ thân và lão Bắc Cảnh Vương giao tình sâu đậm, người nói Bắc cảnh dân phong thuần phác, lại cách xa Trung Nguyên, là một nơi tốt để ta gửi gắm cả đời.
Nhưng người không nói với ta rằng phong tuyết Bắc cảnh lại lớn đến vậy.
Cũng không nói với ta rằng Kỷ Sơn Đình vốn chẳng yêu ta.
Sau khi ta cùng A Man trải bao gian khổ mới tới được Bắc cảnh, giọng nói phương Nam của ta khiến mọi người cười nhạo.
Kỷ Sơn Đình lạnh lùng nhìn ta: “Nói thứ tiếng chim gì vậy?”
Rồi xoay người bỏ đi.
Ta vừa tủi thân vừa buồn bã nhìn theo hắn, trong lòng nghĩ, đâu phải tiếng chim, đó là một câu thơ mà.
Kỷ Sơn Đình sinh ra quá đỗi tuấn tú, mày mắt anh tuấn, dáng người hiên ngang mạnh mẽ, giống hệt chàng trai phương Bắc trong giấc mộng của ta.
Gió mưa mịt mù, tiếng gà gáy chẳng dứt.
Đã gặp quân t.ử, cớ sao chẳng vui?
Khi ấy ta còn chưa hiểu lòng người, chỉ cảm thấy ta và Kỷ Sơn Đình vẫn còn rất nhiều thời gian.
Đủ để ta từ từ giảng cho hắn hiểu từng câu thơ ấy.
Nhưng suốt ba mươi năm, Kỷ Sơn Đình hiếm khi nói chuyện với ta.
Mỗi lần ánh mắt chạm nhau, hắn đều mất kiên nhẫn quay đầu đi.
Ta cứ tưởng hắn vốn ít lời, cho tới ngày một người bạn cũ của hắn tới thăm.
Người ấy cười trêu hắn đã đổi tính.
“Vương phi không biết đấy thôi, trước kia Sơn Đình huynh là người lắm lời nhất, còn bị phu t.ử đặt cho biệt hiệu là ‘Không Mở Miệng’.”
Kỷ Sơn Đình ngồi ngay ngắn bên cạnh, nghe bạn cũ trò chuyện cười đùa, ánh mắt dịu dàng.
Cũng chẳng hề để ý tới sắc mặt đã trắng bệch của ta.
03
Sau đó, có thị tòng vô tình lỡ miệng kể cho ta nghe.
Bọn họ nói, trước kia Thế t.ử là người phóng khoáng ngông cuồng nhất, cưỡi ngựa rong ruổi phố phường, ngắm tuyết săn nhạn, là thiếu niên tiêu d.a.o nhất Bắc cảnh.
Nhưng từ sau khi chia lìa với Tống cô nương, hắn như biến thành một người khác.
Bọn họ nói, Tống cô nương đã mang theo cả hồn lẫn trái tim hắn.
Tống Dao Chước là nữ nhi của một gia đình lưu dân ở Bắc cảnh, từ nhỏ đã quen biết hắn.
Nàng biết cưỡi ngựa, săn được gấu, là đóa tuyết liên rực rỡ nhất Bắc cảnh.
Nhưng nàng mang hai dòng m.á.u Hán và Hồ, mẫu thân là người Hung Nô.
Kỷ gia đời đời trung liệt, trấn thủ Bắc cảnh, có mối thù không đội trời chung với Hung Nô.
Đương nhiên không thể để mặc Thế t.ử cưới một nữ t.ử mang dòng m.á.u người Hồ.
Chẳng ai nhớ nổi Kỷ Sơn Đình đã vì nàng mà quỳ từ đường bao nhiêu lần.
Lần nguy hiểm nhất, khi ấy hắn còn chưa tới tuổi đội quan, đã lén xông ra chiến trường, một mình đ.á.n.h xuyên nửa doanh trại quân địch.
Chỉ vì muốn dùng quân công ấy đổi lấy cơ hội cưới Tống Dao Chước.
Kỷ gia vẫn không chịu nhượng bộ, Tống Dao Chước thất vọng rời đi, không để lại chút tin tức nào.
Trong phẫn nộ và oán hận, Kỷ Sơn Đình cưới ta.
Kỷ Sơn Đình oán ta, chê ta không biết cưỡi ngựa, chê ta không dám săn gấu.
Hắn nói ta là tiểu thư thế gia vô dụng nhất, chỉ cần gió tuyết thổi qua đã có thể nằm bệnh ba ngày, sao xứng làm Bắc Cảnh Vương phi của hắn.
