Lá Gia Thư - 9
Cập nhật lúc: 30/08/2026 14:04
Bên trong đã trống rỗng.
Tiểu muội nói:
“Trà hai năm còn lại không gửi nữa.”
Chưởng quầy gật đầu.
“Vậy số bạc thì sao?”
“Năm đó trả dư, vẫn còn một ít.”
Tiểu muội nghĩ một lúc.
“Không cần trả cho ta.”
“Bến đò cũ chẳng phải cháy mất một con thuyền sao?”
“Gửi qua đó, mua giúp một khúc gỗ chắc chắn.”
Chưởng quầy đáp ứng.
Ta đứng bên cạnh không nói.
Tờ đơn mười năm ấy cuối cùng cũng được xóa.
Ngay hôm đó chúng ta lên đường.
Dọc đường đổi xe đổi ngựa.
Tiểu muội bị xóc đến nôn ba lần.
Nôn xong vẫn thúc xa phu đi nhanh thêm.
Chạng vạng ngày thứ năm, cuối cùng chúng ta trông thấy cây hòe già ở đầu thôn.
Lần đầu tiên ta cảm thấy đường về nhà dài đến vậy.
Cửa viện mở.
Chăn đệm ở phòng đông thật sự đã được phơi xong, trải ngay ngắn chỉnh tề.
A Nương nằm trên giường, người đã gầy chỉ còn một lớp mỏng.
Ta bước vào gọi bà.
Bà mở mắt, nhìn thấy ta, vẫn còn nhận ra.
“Về rồi à?”
“Vâng.”
Ta lùi sang bên.
Tiểu muội đứng ngoài cửa.
Trên đường về, nàng đã hỏi ta rất nhiều lần.
Câu đầu tiên nên nói gì?
Là nói “A Nương, con về rồi”.
Hay là nhận lỗi trước.
Hay là giải thích những phong thư suốt mấy năm nay trước.
Nhưng thật sự đứng trước giường, một câu nàng cũng không nói nổi.
Cuối cùng chỉ gọi:
“A Nương.”
A Nương nhìn nàng rất lâu.
Rồi hỏi:
“Cô nương, cô cũng tới đưa trà sao?”
Tiểu muội lập tức quỳ xuống.
A Nương đã không còn nhận người rõ nữa.
Lúc thì gọi tên ta.
Lúc lại nhận ta thành dì đã mất từ lâu.
Chỉ riêng tiết Cốc Vũ là bà vẫn luôn nhớ.
Mỗi lần tỉnh lại đều hỏi:
“Trà tới chưa?”
Tiểu muội canh bên giường khóc suốt một đêm.
Ngày hôm sau, nàng lấy từ tận đáy hành lý ra một gói giấy rất nhỏ.
Bên trong là mẫu trà nàng mang từ vườn trà cũ Tê Hà về.
Vốn định đưa cho người buôn trà phân biệt giống cổ.
Bây giờ chỉ còn một nhúm.
Nàng đun nước, pha cho A Nương một chén.
Nước trà màu rất nhạt.
A Nương nhấp một ngụm liền nhíu mày.
“Đắng.”
Tay tiểu muội khựng lại.
“Vâng.”
“Trà Tê Hà thật sự ban đầu sẽ đắng.”
A Nương chê.
“Trà tiểu muội con gửi ngọt.”
Trong phòng lập tức im lặng.
Tiểu muội ngồi xổm bên giường.
“Những thứ ấy không phải nàng gửi.”
A Nương nhìn nàng.
Nàng hít mũi.
“Trà thì không.”
“Thư… là do nàng viết.”
“Nhưng tám năm trước nàng đã viết xong hết rồi.”
“Nàng không sinh con trai, cũng không sinh con gái.”
“Không có sân viện kề nước.”
“Ngoài cửa sổ cũng không có trà hoa.”
Nàng càng nói càng chậm.
“A Nương.”
“Tám năm nay con sống không được tốt lắm.”
Ta đứng ở cửa, không bước tới.
A Nương dường như nghe hiểu.
Lại dường như không.
Rất lâu sau, bà đưa tay sờ mặt tiểu muội.
“Hồi nhỏ con cũng hay nói dối.”
Tiểu muội sững người.
A Nương nhắm mắt, chậm rãi nói:
“Ngã con la nhà người ta…”
“Còn nói là con la ra tay trước.”
Ta không nhịn được bật cười một tiếng.
Tiểu muội đã khóc tới mức không nói nên lời.
A Nương bị nàng khóc đến phiền.
“Khóc cái gì.”
“Chăn phòng đông phơi xong cả rồi.”
“Về thì đi ngủ.”
Đêm ấy, tiểu muội thật sự ngủ ở phòng đông.
Sau tám năm, chiếc giường ấy lần đầu có người nằm lại.
Nửa đêm ta dậy thêm nước cho A Nương.
Đi ngang cửa phòng, nghe thấy tiểu muội vẫn còn thức.
Miệng không ngừng lẩm bẩm:
“Về rồi.”
“Cả hai đều về rồi.”
Ba ngày sau, A Nương mất.
Buổi sáng tiểu muội còn đút cho bà nửa bát cháo.
Bà chê măng xuân thái quá to.
Tiểu muội vào bếp thái lại.
Lúc trở về, người đã ngủ rồi.
Lần này bà không tỉnh lại nữa.
Bảy ngày sau khi an táng A Nương, phương Nam gửi thư tới.
Án cũ đã chính thức được lật lại.
Huyện lệnh năm đó cũng bị áp giải từ quê trở về.
Ban đầu hắn c.ắ.n c.h.ế.t nói trận lũ là thiên tai.
Sau đó lão gia chủ nhà họ Bạch khai trước, nói huyện nha đã nhận bạc.
Lão huyện lệnh lập tức c.ắ.n ngược lại, nói nhà họ Bạch lấy sinh kế của mấy trăm trà công ép hắn.
Hai bên càng c.ắ.n càng lộ nhiều chuyện.
Ngay cả hai trăm lượng bạc được khiêng vào từ cửa sau nào cũng khai sạch.
Muội phu cũng không thoát.
Hắn từng tham gia mở đê.
Sau đó lại biết rõ khế cũ là giả mà vẫn giữ những khế tiểu muội chép làm bằng chứng tài sản nhà họ Bạch.
Phán quyết vẫn chưa hoàn toàn định xuống.
Nhưng những vườn trà cũ Tê Hà vốn đứng tên nhà họ Bạch đã bắt đầu được đo đạc lại.
Tìm được hậu nhân thì trả cho hậu nhân.
Không tìm được thì giao cho những người Tê Hà sống sót cùng quản.
Không ai được phép treo hai chữ “Tê Hà” làm tư hiệu của nhà mình nữa.
Tiểu muội đọc xong thư, chỉ hỏi người đưa tin:
“Con thuyền ở bến đò thế nào rồi?”
Người kia ngẩn ra.
“Thuyền mới sắp đóng xong.”
“Trấn Bạch Thạch còn gửi qua một khúc gỗ tốt.”
Lúc ấy nàng mới cười.
Sau khi giữ đủ trăm ngày cho A Nương, tiểu muội lại thu dọn hành lý.
Ta hỏi:
“Lại đi?”
“Ừ.”
“Còn về Bạch Thạch Lĩnh?”
“Về.”
Ta mắng nàng không có tiền đồ.
Nàng nhét quần áo vào hành lý.
“Trà sơn còn chưa chia xong.”
“Những khế cũ ấy cũng phải đối từng tờ.”
“Là chữ ta viết ra.”
“Ta phải tự mình thu dọn cho xong.”
Câu này ta không thể phản bác.
Trước khi đi, nàng lấy phong gia thư thứ mười ra.
Trong đó vốn viết:
“Rời nhà mười năm, cũng nên trở về dập đầu với A Nương rồi.”
Nàng nhìn một lúc rồi ném vào bếp.
Ta hỏi:
“Không giữ sao?”
“Dù gì cũng là chữ của ngươi.”
Nàng phủi tro trên tay.
“Giả thì vẫn là giả.”
Sau đó nàng đeo hành lý lên lưng.
Lần này không có kiệu hoa.
Cũng không có ai tới đón.
Nàng không đi lấy chồng.
Chỉ đi làm chuyện của chính mình.
Cốc Vũ năm sau, ta lại nhận được một hộp trà.
Vẫn là thương đội từ phương Nam tới.
Người dẫn đầu thương đội tự mình đưa tới nhà ta.
Vừa bước vào cửa đã cười:
“Lần này đừng nói ta lấy trà Bạch Thạch Lĩnh lừa cô nữa nhé.”
Ta mở hộp trà.
Bên trong có một phong thư.
Là tiểu muội viết.
“Năm nay mẻ đầu tiên sao khét.”
“Người lái đò đau lòng, mắng ta nửa ngày.”
“Ngày thuyền mới xuống nước, ông ấy tự mình trượt chân rơi xuống sông.”
“Sau khi được vớt lên, câu đầu tiên không hỏi quần áo có ướt hay không.”
“Mà hỏi thuyền có bị xước không.”
“Chân ta mỗi khi trời mưa vẫn đau.”
“Trà viên mới có ba học đồ.”
“Một đứa ngốc hơn một đứa.”
“Trong sân không trồng trà hoa.”
“Thứ ấy mỏng manh, khó nuôi.”
“Ta trồng hai luống hành dưới chân tường.”
Câu cuối cùng là:
“Tỷ, ta sống rất ổn.”
Chỉ có vậy.
Không còn “phu quân kính ta”.
Không còn “con cái quấn quýt bên gối”.
Cũng không còn “đẩy cửa sổ ra là thấy khắp núi trà hoa”.
Ta đọc phong thư từ đầu tới cuối ba lần.
Sau đó lấy một chiếc bát nhỏ, bốc một nhúm trà mới.
Trước tiên ta tới trước mộ A Nương.
Nước vừa rót xuống, lá trà chậm rãi bung ra.
Ta uống một ngụm.
Vẫn đắng.
Nếu A Nương còn ở đây, chắc chắn lại chê không ngọt bằng trà trước kia.
Ta ngồi bên mộ đọc thư của tiểu muội cho bà nghe.
Đọc chuyện nàng sao khét trà.
Đọc chuyện người lái đò rơi xuống sông.
Đọc chuyện chân nàng đau.
Đọc chuyện hai luống hành nàng trồng.
Đều chỉ là những chuyện nhỏ nhặt không tốt cũng chẳng xấu.
Đọc xong, ta uống nốt nửa chén trà còn lại.
Một lúc sau, nơi cuống lưỡi mới từ từ dậy lên chút vị ngọt.
Lần này, trà trong nhà không còn được niêm kín cất đi nữa.
Ta uống hết.
HẾT.
