Người Dạy Ta Làm Tướng - 8
Cập nhật lúc: 27/08/2026 06:04
“Đau thì cứ kêu, không ai cười ngươi.”
“Vừa rồi cha cũng không kêu.”
“Ta là cha ngươi.”
“Cha thì không đau sao?”
Ông không đáp, chỉ đưa cánh tay đến bên miệng ta, bảo nếu đau quá thì c.ắ.n.
Ta không c.ắ.n ông.
Khi đầu tên được rạch lấy ra, ta túm c.h.ặ.t t.a.y áo ông, mồ hôi thấm ướt cả mảng vải.
Đêm ấy cả hai chúng ta đều không ngủ được.
Hoắc Đình Sơn lên tiếng trước: “Cái tát hôm nay là ta không đúng.”
Ta xoay người nhìn ông.
“Cha cũng biết à?”
“Ngươi cứu ta, cũng cứu hai nghìn người.”
“Ta không nên chỉ vì sợ hãi mà biến công lao của ngươi thành lỗi lầm.”
Ông dừng một lát rồi nói tiếp: “Nhưng ngươi cũng có sai.”
“Chia binh là có lý, nhưng xông vào soái trận vẫn quá vội.”
“Nếu ngươi c.h.ế.t, một trăm kỵ binh kia sẽ c.h.ế.t theo ngươi, sườn đông và cửa cốc cũng sẽ loạn.”
Ta nhớ tới binh sĩ chỉ còn lại một chiếc ủng, bèn gật đầu.
“Sau này ta sẽ nghĩ kỹ rồi mới xông.”
“Cũng không thể việc gì cũng nghĩ thật kỹ mới động.”
“Chiến trường không cho ngươi nhiều thời gian như thế.”
“Vậy rốt cuộc phải làm thế nào?”
“Từ từ học.”
Hoắc Đình Sơn đưa tay từ bên sập sang, nắm lấy cổ tay ta.
“Ta còn sống một ngày, sẽ dạy ngươi một ngày.”
Sau khi Ô Diên c.h.ế.t, Bắc Địch lùi hai mươi dặm nhưng vẫn chưa thật sự rút quân.
Bọn chúng đổi một chủ tướng khác, là huynh trưởng của Ô Diên, tên Ô Đạc.
Người này không nóng nảy như đệ đệ, cũng không vội công thành, chỉ phái từng toán kỵ binh nhỏ vòng qua quan ải, đốt thôn xóm và ruộng lương dọc đường.
Nếu trước khi vào đông không đưa được bách tính và lương thực trở về, trong thành có nhiều quân phòng thủ đến đâu cũng không chịu nổi.
Mũi tên của Hoắc Đình Sơn làm thương tổn gân, trong một tháng tay phải không thể cầm đao.
Giám quân đã nếm đủ hậu quả của việc tự tiện truy địch, lần này không dám tranh ra lệnh nữa, chỉ triệu tập chư tướng bàn xem ai sẽ tạm lĩnh tiền quân.
Trong trướng có người nhìn ta, cũng có người nhìn Hoắc Thừa Lễ.
Những năm qua Hoắc Thừa Lễ cũng không hề nhàn rỗi.
Hắn bắt đầu từ một tiểu tốt trong quân, đao pháp không bằng ta, nhưng cưỡi ngựa b.ắ.n cung và dẫn binh đều rất ổn.
Nhị thúc công nhờ người đưa ba phong thư tới, bảo hắn nhân lúc ta còn ít tư lịch mà nhận lấy tiền quân.
Hoắc Thừa Lễ đọc xong, ngay trước mặt ta và Hoắc Đình Sơn ném cả ba phong thư vào chậu lửa.
“Tổ phụ tuổi lớn rồi, lúc nào cũng cho rằng gia chủ ấn là một khối vàng, ai cướp được thì người đó phú quý.”
Hắn nhìn ta.
“Ta muốn lĩnh binh vì ta có thể lĩnh.”
“Ngươi muốn lĩnh thì cũng phải chứng minh ngươi có thể.”
“Chúng ta không cần đem nam nữ hay huyết mạch ra nói.”
Ta gật đầu.
“Được.”
Hoắc Đình Sơn không lập tức giao tiền quân cho ta.
Ông cho ta và Hoắc Thừa Lễ mỗi người ba nghìn quân, bảo chúng ta chia nhau đi tiếp ứng hai quân đồn ngoài thành.
Quân đồn của ta ở Thanh Thạch Xuyên, cách thành tám mươi dặm, giữa đường có một con sông dài mùa đông nước cạn.
Thám mã báo về, một vạn kỵ binh của Ô Đạc đang tiến đến nơi ấy, tính theo lộ trình sẽ tới sớm hơn ta nửa ngày.
Tất cả mọi người đều khuyên ta bỏ.
“Ba nghìn người đối đầu một vạn kỵ binh, có chạy tới cũng giữ không nổi.”
“Tướng quân, trước hết nên giữ thành.”
Thanh Thạch Xuyên không chỉ có kho lương mà còn có hơn bảy trăm hộ dân đồn điền.
Trời còn chưa rét nhất, nếu họ bị đuổi vào núi, chẳng mấy người sống nổi.
Ta trải dư đồ xem hai lượt rồi hỏi lão binh dẫn đường: “Nước ở thượng nguồn con sông này từ đâu tới?”
“Ưng Sầu Hạp.”
“Nơi ấy vào đông sớm, cửa hạp hẳn đã đóng băng.”
“Năm nay ấm, băng không dày.”
Một lão binh khác nói: “Lúc chúng ta tới còn nghe tiếng nước chảy dưới băng.”
Ta sai người thu gom toàn bộ b.úa sắt, đục và bao tải rỗng đựng lương trong quân, lại phái khoái mã đi trước báo cho dân đồn điền.
Không mang hòm rương, chỉ lùa gia súc, mang lương khô, rút lên sườn cao phía đông sông.
Phó tướng hỏi: “Chúng ta không vào quân đồn sao?”
“Vào.”
“Trước tiên đưa người đi, sau đó để lại năm trăm người nhóm lửa nấu cơm.”
“Bếp càng nhiều càng tốt, khiến Ô Đạc tưởng viện binh trong thành đã tới hết.”
“Vậy số người còn lại?”
“Theo ta lên thượng nguồn phá băng.”
Hoắc Đình Sơn từng dạy ta, đ.á.n.h trận không thể chỉ nhìn người và đao.
Thế núi, dòng nước, sắc trời, ngay cả loại cỏ gia súc đã ăn qua, đều là thứ có thể dùng.
Khi chúng ta chạy tới Ưng Sầu Hạp, trời đã nhá nhem.
Hơn hai nghìn người đục băng suốt một đêm dọc mặt sông đã đóng cứng, nhét những bao tải đầy đá sông xuống dưới lớp băng, chỉ chừa vài chỗ ở giữa không đục thủng hẳn.
Chiều hôm sau, Ô Đạc quả nhiên đuổi đến Thanh Thạch Xuyên.
Hắn thấy khói bếp khắp nơi nên không dám xông trại ngay, trước tiên phái người đi vòng dò xét.
Chính quãng thời gian ấy đã đủ cho dân đồn điền rút lên sườn cao.
Đến khi phát hiện trong quân đồn chỉ có năm trăm người, hắn giận dữ dẫn kỵ binh qua sông truy kích.
Lúc ấy tiền phong của hắn đã đặt chân hết lên mặt băng.
Ta đứng ở cửa hạp, giơ tay lên.
Cung thủ châm lửa vào dây gai tẩm dầu, b.ắ.n về đám cỏ khô chúng ta chôn sẵn bên bờ.
Lửa đốt đứt dây thừng, những tảng đá lớn treo trên giá gỗ đồng loạt rơi xuống, đập thủng mấy chỗ băng mỏng.
Nước bị chặn dưới băng tràn qua khe nứt, cả mặt sông liên tiếp sụp xuống.
Kỵ binh Bắc Địch lập tức đại loạn.
Chúng ta từ hai sườn dốc xông xuống, không đuổi theo c.h.é.m những kẻ rơi xuống nước, mà trước tiên phong tỏa bờ tây, cắt quân địch đã qua sông khỏi chủ lực phía sau.
Ô Đạc muốn dẫn thân vệ phá vây.
Ta xách đao đuổi mấy dặm, đã nhìn thấy tấm áo choàng da sói trên lưng hắn.
Chỉ cần nhanh thêm một chút, có lẽ ta có thể giống như lần c.h.é.m Ô Diên, lấy thủ cấp hắn.
Nhưng phía sau lại vang lên tiếng cầu cứu.
Một chiếc xe bò chở trẻ nhỏ trong lúc rút lui bị lật xuống rãnh, hơn mười kỵ binh Bắc Địch đang lao về phía ấy.
