Nhất Định Phải Tự Cứu Mình Khỏi Nước Sôi Lửa Bỏng - 6
Cập nhật lúc: 24/08/2026 14:02
A Đường đang bưng một bát đậu hoa nóng, nghe vậy liền sững người.
“Ta đi làm gì?”
“Nấu cơm.”
Nàng trợn tròn mắt: “Khương Chiếu Vi, ta đến cứu ngươi, không phải đến làm đầu bếp cho ngươi.”
“Vậy ngươi làm tỷ tỷ của ta.”
Nói xong, chính ta cũng có chút ngượng, cúi đầu khuấy bát đậu hoa.
A Đường im lặng rất lâu.
Nàng đưa tay vò rối tóc ta, cười đến đỏ cả mắt: “Được.”
“Ngươi đến Bắc cảnh làm nữ quan, ta đến Bắc cảnh mở quán mì.”
Chúng ta rất nhanh rời kinh thành.
Gió Bắc cảnh rất lớn, cát vàng thường thổi tường thành đến bạc trắng.
Nhưng đất phong của Tạ Vọng Thư lại náo nhiệt hơn ta tưởng, trong thành có diêm thương, mục dân, thợ rèn, cũng có rất nhiều cô nương đeo túi sách sau lưng.
Tháng đầu tiên đến Bắc cảnh, ta ở trong hai gian phòng nhỏ phía sau nữ học.
Cửa sổ đóng không kín, đêm đến gió cứ lùa vào.
A Đường lấy bông cũ bịt ba lần, hôm sau vẫn bị gió thổi bung.
Nàng tức đến chống nạnh mắng gió không biết quy củ.
Ta ngồi dưới đèn viết học quy, nhịn hồi lâu vẫn bật cười.
“Ngươi cười gì?”
“Ta đang nghĩ, nếu gió nghe hiểu lời ngươi, có lẽ nó sẽ cuốn ngươi thẳng ra ngoài thành.”
A Đường ném cục bông vào lòng ta: “Bây giờ còn biết cãi lại rồi, xem ra bát mì ăn ở kinh thành không uổng.”
Lúc nữ học vừa mở, người đến không nhiều.
Rất nhiều người đưa nữ nhi tới cửa, nghe nói phải thu hai đồng tiền giấy mực liền kéo con quay về.
Ta và A Đường đi từng nhà khuyên nhủ.
Thê t.ử của thợ rèn nói cô nương biết chữ cũng chẳng gả được cho người tốt, người phụ nữ bán sữa dê nói nữ nhi nhà mình còn phải trông đệ đệ.
Chỉ có một lão binh què chân đẩy cháu gái ra, bảo con bé theo ta đi.
Cô bé tên Triệu Tiểu Mãn, mười tuổi, sau lưng đeo nửa sọt củi.
Nó nhìn ta rất lâu rồi hỏi: “Phu t.ử, biết chữ rồi có thể ăn no không?”
Ta không dùng lời hay ý đẹp để dỗ nó.
“Không thể lập tức ăn no.”
“Nhưng con biết tính sổ, người khác sẽ không thể thiếu tiền đồng của con.”
“Con biết xem khế thư, khi người ta cầm giấy lừa con, con sẽ nhận ra.”
“Nếu học tốt, phủ quận chúa còn có thể cho con một việc làm.”
Triệu Tiểu Mãn đặt sọt củi xuống: “Vậy con đi.”
Nó là học sinh đầu tiên bước qua cánh cửa nữ học.
Hôm ấy A Đường nấu hẳn một nồi canh thịt dê lớn, bưng đến trước học đường.
Lũ trẻ ngửi thấy mùi thơm, lần lượt ló đầu nhìn vào.
Nàng cố ý nói canh chỉ cho người đọc xong một trang sách uống, vậy mà đến buổi chiều lại có thêm hơn mười đứa trẻ đến.
Tạ Vọng Thư biết chuyện, cười đến vỗ bàn, nói nàng mời ta tới mở trường, cuối cùng lại mời thêm một đầu bếp dùng thịt dê mua chuộc học trò.
A Đường không phục, xách muôi canh tranh luận với nàng: “Người đói bụng lấy đâu ra tâm trí học thuộc sách.”
“Nếu hồi nhỏ có người cho quận chúa một bát canh nóng, nói không chừng người cũng bớt c.h.é.m vài cái đầu.”
Tạ Vọng Thư nhướng mày, vậy mà không phản bác.
Sau đó nàng cho kho phủ cấp một khoản bạc, xây một gian bếp cạnh học đường.
A Đường có chỗ liền càng làm hăng.
Nàng biết hầm xương dê thành canh trắng, cũng biết xay thứ tạp lương cứng đến cấn răng thành bột mịn.
Các cô nương ở Bắc cảnh ban đầu không dám thân cận với nàng, sau này đều biết, hễ A Đường đặt bát xuống trước mặt ai thì nghĩa là người đó lại bận đến quên ăn.
Ta cũng có lúc quên.
Một ngày nọ kiểm kho đến tận khuya, lúc ngẩng đầu lên ta mới phát hiện bốn phía đã không còn ai.
A Đường ôm hộp thức ăn ngồi xổm trên ngưỡng cửa, đầu gật gà gật gù, suýt nữa ngã cắm vào tuyết.
Ta chạy tới kéo nàng dậy.
Nàng mơ mơ màng màng mở mắt, câu đầu tiên là: “Cơm nguội rồi, ta đi hâm lại.”
Ta nhận lấy hộp thức ăn: “Sau này đừng đợi muộn như vậy.”
Nàng nhìn ta, vẻ mặt hơi tủi thân: “Nếu ngươi không ăn, ta sẽ lo.”
Ta bẻ chiếc bánh nóng làm hai, nhét cho nàng một nửa.
“Vậy thì cùng ăn.”
Nàng cúi đầu c.ắ.n một miếng, cười như đứa trẻ vừa được ban thưởng.
Đến tháng thứ ba nữ học mở cửa, mấy nhà đại thương hộ trong thành tìm Tạ Vọng Thư, nói nữ t.ử xuất đầu lộ diện làm hỏng quy củ, yêu cầu đóng học đường.
Bọn họ đẩy một lão trướng phòng lớn tuổi nhất tới gặp ta.
Ông ta râu tóc hoa râm, vừa vào cửa đã đập sổ sách xuống bàn.
“Khương phu t.ử, cô đã nói nữ t.ử có thể tính sổ, vậy thì hãy tính rõ thuế muối ba năm này.”
“Nếu tính không ra, ngày mai đóng cửa.”
Sổ sách ông ta mang tới cao đến nửa người, cố ý trộn lẫn sổ thật và sổ giả.
Tiểu Mãn tức đến muốn mắng thay ta, bị ta đặt tay lên vai giữ lại.
Ta ngồi xuống, gọi tất cả cô nương trong học đường đã biết viết tới.
Người chép diêm dẫn, người đối chiếu cân số, người tách vận đơn của từng cửa hàng.
A Đường liên tục mang từng ấm nước nóng vào, ai lạnh cứng tay thì nàng nhét một củ khoai nướng vào lòng bàn tay người ấy.
Ba ngày sau, chúng ta tìm ra khoản thuế muối bọn thương nhân đã trốn lậu trong sổ.
Số bạc ấy vốn phải dùng để sửa kênh, nhưng bọn họ ỷ Bắc cảnh hoang vắng, năm nào cũng khai thiếu hai phần mười.
Sắc mặt lão trướng phòng như vừa bị ngâm trong nước tuyết.
Ta giao bản sổ đã chép lại cho Tạ Vọng Thư, xin nàng truy thu theo luật.
Đám thương nhân quỳ ngoài đường, khóc lóc kêu oan, nói đều do trướng phòng che mắt chủ nhà.
Lão trướng phòng cũng khóc, nói mình chỉ nghe lệnh làm việc.
Tạ Vọng Thư không nghe bọn họ cãi, hạ lệnh bổ sung toàn bộ số thuế còn thiếu, lại bắt mỗi nhà bỏ thêm một khoản tiền sửa cầu ngoài thành.
“Các ngươi đã thích nói quy củ, vậy thì cứ theo quy củ mà làm.”
Chiều hôm ấy, Tiểu Mãn cầm khoản tiền công chép sổ đầu tiên đến tìm ta.
Nó không nỡ tiêu, chỉ mua một sợi dây buộc tóc đỏ cột lên đầu.
