Quyển Vương Ở Thập Niên 60 - Chương 467
Cập nhật lúc: 11/01/2026 02:39
Giang Tam Trụ nhìn bộ dạng hiện tại của bà cũng thấy mừng cho bà, vội vã xuống núi nói chuyện này với Giang Kiến Quân. Hứa Minh Nguyệt sau khi xử lý xong chuyện kỹ thuật sao trà của xưởng trà thì lại quay về công xã Thủy Bộ, không ở đại đội Lâm Hà.
Giang Kiến Quân nghe nói Giang Tâm Liên muốn nuôi gà, vội bảo Giang Tam Trụ mang mười mấy con gà con lên cho bà: "Nếu cô ấy chê nhiều thì anh mang số còn lại đưa cho mấy bác Giang."
Kể từ khi Hứa Minh Nguyệt đồng ý cho Giang Tâm Liên làm cốt cán kỹ thuật, Giang Tâm Liên dường như biến thành một người khác. Tuy gương mặt vẫn u ám cả ngày, lời nói có phần cay nghiệt, nhưng không còn c.h.ử.i bới suốt ngày nữa, thi thoảng trên khuôn mặt lạnh lẽo còn thấy được vài phần ý cười. Căn nhà đá của bà trên núi vốn dĩ là một phần của xưởng trà cũ, giờ trà Minh Hậu mới hái về được chuyển thẳng đến căn nhà đá của bà để rải ra, dùng điểm công mình kiếm được để đổi sữa bột cho đứa trẻ.
Bà nuôi sáu con gà ở sân sau, mười con còn lại do các cụ già trên núi nuôi. Vì ở trên núi nên cũng không ai hạn chế họ chỉ được nuôi hai con gà, miễn là không bị sói tha đi, bà muốn nuôi bao nhiêu tùy ý. Trứng gà đẻ ra, bà và đứa trẻ nhận nuôi cùng ăn, bà ăn trứng luộc, đứa bé ăn váng trứng.
Bà ngày xưa là tiểu thư nhà địa chủ, không có thói quen của những phụ nữ nông dân bình thường là có đồ tốt thì giấu đi không nỡ ăn. Bà biết cơ thể mình bị suy nhược trầm trọng đến mức nào, về mặt ăn uống bà chưa bao giờ ngược đãi bản thân. Mà bà có kỹ thuật lên men trà Minh Hậu, không chỉ có điểm công mà còn có lương, điểm công và lương của bà đủ để chi trả cho cuộc sống của bà và đứa trẻ.
Chương 363
Cùng với diện tích đất trồng lúa mì dưới chân núi tăng lên hàng năm, chế độ ăn uống hàng ngày của người dân đại đội Lâm Hà cũng phong phú hơn hẳn. Sự thay đổi lớn nhất chính là ngoài cơm trắng, bữa sáng của người dân thường có thêm bánh áp chảo (quốc thiếp bính), bữa tối có thêm mì sợi thủ công.
Bánh áp chảo rất dễ hiểu, chính là dùng vải tẩm dầu quét một chút dầu cải lên chảo sắt, rồi phết một lớp bột mì mỏng dưới đáy chảo, sau đó xúc cả mảng ra, chính là một mẻ bánh mì vàng ươm giòn rụm. Loại bánh này rất hợp trong mùa hạ bận rộn khi không có nhiều thời gian nấu nướng mà bữa sáng lại phải ăn thứ gì đó no bụng, là lựa chọn bữa sáng của đa số các gia đình địa phương.
Trước mùa gặt hái bận rộn (song tiếu), lại có một khoảng thời gian không quá bận rộn. Trên bàn ăn tối của các gia đình đều có thêm món mì. Ai biết làm mì thủ công thì làm mì thủ công, ai không biết làm thì làm canh bột mì (cật đáp thang).
Những sợi mì thủ công nguyên chất, không lẫn chút cám nào, được cắt thành những dải mỏng dài, cho vào nồi đun sôi, chỉ cần một chút mỡ lợn và rau xanh là đã thơm nức, trở thành ký ức tuổi thơ của những đứa trẻ thời đại này. Đó là ký ức ấm áp nhất về gia đình, về mẹ, về thời thơ ấu. Cho đến tận nhiều năm sau khi trưởng thành, những đứa trẻ đi xa trở về vẫn nhớ mãi bát mì thủ công của mẹ.
Cũng có một số gia đình thử làm màn thầu lên men.
Đáng tiếc là địa phương này thuộc miền Nam, không phải miền Bắc, rất ít người ăn mì và màn thầu, dẫn đến việc một số người dù học theo người khác làm màn thầu nhưng làm ra lại cứng như đá, trải nghiệm rất tệ.
Sau khi lúa mì mùa đông năm nay thu hoạch, Triệu Hồng Liên cũng rất trịnh trọng làm màn thầu và mì thủ công cho cả gia đình, còn đặc biệt nhiệt tình mời A Cẩm đến nhà ăn ngon.
Đối với những đứa trẻ nông thôn, đây quả thực là những món ăn khá hiếm có.
A Cẩm thuộc kiểu dù là chuyện gì cô bé cũng sẽ nhiệt tình hưởng ứng, kết quả là c.ắ.n một miếng màn thầu do Triệu Hồng Liên làm, suýt chút nữa thì gãy răng.
Cô bé vẫn là người giữ thể diện, lúc đó không nỡ nói với Triệu Hồng Liên rằng bà làm màn thầu cứng như sắt, về nhà liền cười lớn kể với Hứa Minh Nguyệt: "Màn thầu mợ cả làm cứng như đá ấy, anh Ái Quốc Ái Đảng còn khen ngon, đó là do các anh ấy chưa được ăn màn thầu mẹ làm thôi!"
Cô bé thật sự không hiểu nổi, tại sao cùng là làm màn thầu mà mợ cả làm ra lại cứng, nghẹn và khó ăn như vậy, còn mẹ mình làm ra lại thơm, mềm, lại có vị ngọt thanh, càng ăn càng thấy ngon.
Hứa Minh Nguyệt nghe con bé khen thì lườm một cái, cũng chẳng thèm nghĩ xem mình đã cho những thứ gì vào màn thầu: sữa tươi, đường trắng, lại còn để lên men kỹ, sao có thể không thơm phức mùi sữa, xốp mềm ngọt lịm được chứ?
Hôm nay là một ngày cuối tuần hiếm hoi. Hiện tại các việc như xưởng trà, cày bừa vụ xuân, nuôi cá ruộng lúa, thu hoạch hạt cải dầu và lúa mì mùa đông đã hoàn tất. Việc trồng khoai lang đã có các đại đội trưởng sản xuất dẫn dắt xã viên thực hiện, đây đều là những việc các đại đội trưởng đã làm quen tay, Hứa Minh Nguyệt không cần phải lo lắng, bản thân cũng có thể tạm thời thả lỏng một chút, về đại đội Lâm Hà bầu bạn với A Cẩm.
Đợi khi toàn bộ màn thầu được hấp xong, Hứa Minh Nguyệt tự mình lót một miếng vải lanh sạch xuống dưới giỏ tre, xếp đầy hai giỏ tre. Một giỏ mang đến cho bác sĩ Trương, tiện thể cho các học đồ ở trạm xá nếm thử màn thầu luôn.
Trong số mười hai học đồ này, chỉ có sáu người đến từ đại đội Lâm Hà, sáu người còn lại đến từ đại đội Hòa Bình, đại đội Kiến Thiết và trong núi sâu. Hai đại đội này và trong núi vẫn chưa thực hiện được việc "tự do gạo trắng" và "tự do màn thầu", lương thực ăn hàng ngày đều là rau dại trộn với cám gạo, ngay cả màn thầu cũng là loại màn thầu sắt đầy cám lúa mì, chính là loại màn thầu cứng như đá mà A Cẩm mô tả mợ cả mình làm.
Cũng không phải người địa phương không biết làm màn thầu, mà là không có men, và một số người quả thực kỹ thuật có hạn.
Mười mấy chiếc màn thầu trắng tinh thơm mềm được gửi đến trạm xá, ngay lập tức bị đám thiếu niên thiếu nữ đang tuổi ăn tuổi lớn tranh cướp sạch sành sanh. Từng người một ôm chiếc màn thầu thơm mùi sữa, ngọt lịm, gặm đến nỗi cười híp cả mắt.
Bác sĩ Trương bước ra cười nói với Hứa Minh Nguyệt: "Cô cứ chiều chuộng chúng nó đi!"
Buổi tối trạm xá nấu cháo gạo trắng nguyên chất.
Bác sĩ Trương đóng chốt tại đại đội Lâm Hà để dạy học đồ cũng có điểm công, ngay cả những học đồ này cũng được bao ăn ở, phần còn thiếu Hứa Minh Nguyệt sẽ tự mình bù cho bác sĩ Trương.
Xưởng tách cám gạo của đại đội Lâm Hà đã có thể làm được việc gạo tách ra không còn một chút cám nào. Cháo gạo trắng nấu lên trắng muốt sánh đặc, ăn kèm với đậu đũa muối chua và trứng muối, ngon đến mức khiến đám thiếu niên thiếu nữ từ đại đội Hòa Bình, đại đội Kiến Thiết và trong núi sâu chỉ muốn ở lại đại đội Lâm Hà mãi mãi, mãi mãi làm một nhân viên y tế tại trạm xá của đại đội.
Lúc này, trong cái đầu nhỏ bé của họ, tâm nguyện duy nhất cho tương lai là có thể sống những ngày tốt đẹp như ở đại đội Lâm Hà, có thể bữa nào cũng được húp cháo gạo trắng, nếu thỉnh thoảng được ăn một chiếc màn thầu trắng thơm xốp mềm thì cuộc sống đó thật là tuyệt vời quá rồi!
Hứa Minh Nguyệt từ biệt trạm xá, xách một giỏ màn thầu màu trắng hơi ngà đi về phía nhà Hứa Phượng Đài.
Hứa Tiểu Vũ đang ở nhà gặm màn thầu do Hứa Phượng Đài làm.
Đúng vậy, là Hứa Phượng Đài, không phải Triệu Hồng Liên.
Triệu Hồng Liên hiện tại làm việc ở bến Bồ Hà, bữa trưa ăn ở đó, đôi khi chiều tối về muộn thì phải nấu cơm trong bóng tối. Nấu cơm trong bóng tối thì tốn điện, nhà ai mà nỡ lãng phí điện chứ? Cho nên cơm nước nhà họ Hứa, hoặc là do bà cụ làm, hoặc là do Hứa Phượng Đài làm.
Hứa Phượng Đài thật sự rất bận, để tiết kiệm thời gian, bất kể là màn thầu, hay bánh chưng, hay các loại đồ ăn khác, anh đều chú trọng một chữ: To!
Bánh chưng dùng lá lụa (lá bương) mọc từ cây tre trên núi để gói, một nồi bánh chưng luộc mấy tiếng đồng hồ cũng không chín, mở ra thì bên ngoài chín, bên trong vẫn còn sống, thậm chí hâm nóng lại mấy lần mà gạo bên trong vẫn sống nhăn.
Màn thầu cũng vậy, một cái màn thầu còn to hơn cả mặt của Hứa Tiểu Vũ. Bản thân anh thì không sao, đi làm việc mang theo một cái bánh chưng hoặc màn thầu như vậy là đủ no bụng, nhỏ quá đối với những người làm công việc chân tay nặng nhọc như họ thì đúng là không bõ dính răng.
Hai đứa nhỏ còn lại là Hứa Ái Quốc và Hứa Ái Đảng cũng vậy, mỗi đứa ôm một cái màn thầu to như cái đầu mà gặm.
Hai đứa nhỏ này từ nhỏ đã nuôi ở nhà mình, lúc Triệu Hồng Liên và Hứa Phượng Đài bận việc thì đều do bà cụ nấu cơm.
Nhà Hứa Phượng Phát và Diêm Xuân Hương đã xây xong từ lâu, đã dọn ra ở riêng, bếp núc cũng chia ra rồi. Bây giờ nhà Hứa Phượng Phát do Diêm Xuân Hương làm chủ, nếu họ có làm món gì ngon, đôi khi sẽ dùng bát múc một ít mang sang cho bà cụ.
Bà cụ tuổi đã cao, răng không tốt, bất kể nấu thứ gì cũng thích ninh một nồi nhừ nát, gọi là "đại tạp hủy" (món hầm thập cẩm).
Đây cũng là cách làm phổ biến trong các gia đình thời đại này, vừa có thể tiết kiệm củi lửa, vừa tiết kiệm dầu. Thời đại này bất kể nam nữ già trẻ, người lớn trẻ con, ai nấy đều bận rộn, ai nấy đều mệt muốn c.h.ế.t, mệt đến mức giặt giũ nấu cơm cũng trở thành thời gian muốn được nghỉ ngơi sau những lúc kiệt sức, cho nên về cơ bản nhà nào cũng là một nồi thức ăn lớn, nào là cá, lươn, chạch, ốc, rau dại, khoai lang, tất cả hầm chung một nồi.
Điểm này của Hứa Phượng Đài gần như đúc cùng một khuôn với bà cụ, thậm chí làm còn thô hơn bà cụ.
Bà cụ nấu cơm ít nhất còn chú ý một chút đến thứ tự cho rau vào, rau khó chín cho trước, rau dễ chín cho sau. Hứa Phượng Đài thì thật sự là cho vào một lúc hầm cả nồi luôn, chủ yếu là nấu chín ăn được là được.
Hứa Ái Quốc và Hứa Ái Đảng hai anh em từ nhỏ đã ăn cơm do bà cụ và Hứa Phượng Đài nấu mà lớn lên, có thể tưởng tượng được mức độ chấp nhận thức ăn của hai đứa, về cơ bản chỉ cần không phải là cám lợn thì chúng đều ăn được.
Thậm chí bây giờ Hứa Ái Quốc mới sáu tuổi đã biết tự nấu ăn rồi. Cậu bé tự mình ra ven sông Trúc, dùng những cây tre c.h.ặ.t xuống, tước bỏ sợi tre bên trên, để lại một đoạn dài bằng ngón tay út, tạo thành một cái "neo" bằng tre, sau đó quăng neo tre vào đám rau lăng dày đặc, kéo lên một cái là kéo được một lùm rau lăng lên. Cậu bé dẫn theo em trai Ái Đảng hái những hạt lăng trên đó xong thì mang rau lăng về nhà, tự mình nấu canh rau lăng, bỏ chút muối vào là đã ngon hơn cơm bố và bà nấu rồi.
Vào mùa đậu tằm chín, hai anh em hái đậu tằm trong mảnh vườn tự cấp của nhà mình, tự dựng một cái bếp đất trên hòn đá trước cửa nhà, dùng miếng sành nhặt được bên ngoài, nhặt ít củi khô, bẻ ít cỏ khô, rang đậu tằm ăn.
Hoặc là cùng một nhóm bạn nhỏ, nhặt được những bông lúa rơi vãi trên đường lúc mọi người gánh lúa mùa gặt hái, mang ra đống lửa ở sân phơi lúa, dùng đống lửa nổ bỏng gạo ăn.
Hai anh em đã phát triển đến mức sắp có thể tự cung tự cấp được rồi.
Thấy cô cả xách giỏ rau đến, hai anh em bộc phát sự nhiệt tình vô bờ bến, giống như hai quả pháo nhỏ lao tới: "Cô cả!"
"Cô cả ơi, cô mang đồ gì ngon đến thế ạ?"
Hai đứa nhỏ bám vào giỏ rau, suýt nữa thì ngã nhào vào trong giỏ.
Cô tiện tay đưa giỏ rau cho Hứa Ái Quốc, cười nói: "Mang vào cho bà nội đi."
Hứa Ái Quốc vội vàng xách chiếc giỏ tre to bằng nửa người mình, lon ton chạy vào bếp tìm bà cụ: "Bà nội ơi! Bà nội ơi! Cô cả gửi đồ ngon sang này!"
