Ta Chính Là Thần - Chương 2: Không Có Thần, Ta Chính Là Thần.
Cập nhật lúc: 22/09/2026 10:02
Phố dài là nơi náo nhiệt nhất của ngoại quách thành, hai bên hiệu quán san sát, từ sớm đến tối xe ngựa không ngớt. Đi về phía đông đến cuối đường, chính là đại viện họ Tằng – sân trước sát mặt phố mở ba gian hiệu tơ lụa, xưa kia người qua kẻ lại đông đúc nhất, cửa lớn bên cạnh chính là một ngôi miếu.
Từ khi xảy ra t.h.ả.m án diệt môn hai tháng trước, hiệu nhà họ Tằng đóng đinh kín bưng, cổng viện khóa kín mít, hàng xóm đi ngang đều vội vàng bước nhanh, không ai muốn dừng lại. Lâu dần, con đường nhỏ bên ngoài tường sau viện mọc đầy cỏ hoang, thành lối mòn vắng vẻ không bóng người.
Khương T.ử Phong chọn chính ngôi miếu này.
Y nhân lúc sương sớm dày đặc nhất lần mò tới, đầu ngón tay bấu vào khe gạch, mượn lực nơi đầu ngón tay, thoắt người vượt tường, tiếp đất nhẹ như mèo. Trong viện còn tĩnh lặng hơn bên ngoài, cửa chính đóng kín, cỏ hoang trước bậc thềm cao quá mắt cá chân, năm xưa là gia đình thể diện đến nhường nào, nay chỉ còn một viện c.h.ế.t lặng.
Y vòng ra nhà củi – nơi này nằm sát miếu thờ, dưới chân tường chất một đống củi mục.
Y đã thăm dò nơi này hai lượt rồi mới quyết định chọn nó. Sân trước sát phố, người qua kẻ lại, tai mắt quá nhiều; sân sau lại hoang vắng kín đáo, từ đây đào một đường ngầm chéo sang phía miếu, đầu bên kia vừa khéo thông đến bệ đá dưới tượng thần trong miếu. Bệ đá ấy rỗng ruột, là ngăn bí mật giấu tiền để lại từ thuở xây miếu, vừa đủ chứa một người ẩn thân.
Cửa vào giấu dưới đống củi mục, cho dù có người vào viện hoang này, cũng tuyệt đối không ngờ dưới đống củi có mật đạo.
Trong lòng đã nắm chắc, y cũng không nán lại lâu, theo đường cũ lật ra ngoài. Đi ngang đầu phố, quầy bói của Trần lão ông vừa dựng lên, ông lão nửa nhắm mắt phơi nắng, như thể không trông thấy y.
Khương T.ử Phong bước chân không dừng, thẳng về nhà.
A bà đang ngồi xổm trong sân hái rau, nghe tiếng động ngẩng đầu: “Sớm vậy đi đâu rồi? Mặt đỏ bừng lên rồi kìa.”
“Đi ngoài thành dạo một vòng.” Khương T.ử Phong bước vào bếp, đem xẻng và bao tải ở góc tường giấu ra sau đống củi, thuận miệng nói, “Tìm được một việc làm tạm, giúp người ta dọn viện cũ. Chủ nhà ngại ban ngày người qua lại, bảo con tranh thủ ban đêm dọn dẹp, tiền công cũng cao hơn một chút.”
“Vậy thì tốt.” A bà đứng thẳng lưng đ.ấ.m đ.ấ.m lưng, lại dặn dò, “Đừng có dùng sức bừa.”
Đêm đó canh ba, Khương T.ử Phong nhét đá lửa vào n.g.ự.c, xách xẻng lặng lẽ lẻn ra cửa. Tiếng mõ báo canh vừa qua hai hồi, ngõ nhỏ tĩnh lặng chỉ còn tiếng côn trùng kêu.
Y quen đường quen lối qua cầu đá, theo chân tường phố dài mò đến cuối, chui vào lối hoang, lật vào sân sau nhà họ Tằng.
Y gạt đống củi mục sang một bên, để lộ lớp đất ẩm phía dưới. Y nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, vung xẻng đào xuống vững vàng. Đất ẩm bốc lên mùi ngai ngái, một xẻng xuống nghe nặng nề, y không dám đào nhanh, sợ tiếng động lớn kinh động hàng xóm, chỉ dám chậm rãi dùng sức, từng xẻng từng xẻng đào xuống. Đất đào ra đều cho vào bao tải, nhân lúc trời chưa sáng vác ra bờ sông đổ đi, không để lại nửa dấu vết.
Cứ thế liền bốn đêm.
Mỗi đêm đều canh ba ra cửa, gà gáy lần đầu liền về, quần áo dính bùn, lòng bàn tay mài ra vết đỏ. A bà mắt kém, không nhìn rõ vết thương trên tay y, chỉ sờ thấy quần áo y luôn ẩm ướt, liền đêm đêm hâm cháo trên bếp, dưới đáy bát đặt một quả trứng luộc, đợi y về là bưng lên bàn.
“Đã bảo đừng quá mệt, kiếm tiền nào quan trọng bằng thân thể.” A bà ngồi trên ghế nhỏ nhìn y uống, miệng lẩm bẩm, “Cha ngươi năm xưa chính là quá cố chấp…”
“Biết rồi a bà.” Khương T.ử Phong c.ắ.n trứng, cười hàm hồ, “Chủ nhà hậu đãi, không mệt.”
Đêm thứ năm, xẻng “keng” một tiếng đập vào đá.
Khương T.ử Phong thầm thở phào, đặt xẻng xuống sờ mặt đá thô ráp bên trên, chính là bệ tượng thần. Y theo khe đá mò nửa vòng, quả nhiên sờ được một phiến đá lỏng, vận lực nhấc lên, phiến đá dịch ra một tấc, bên trong tỏa ra mùi tro hương lạnh lẽo.
Thành rồi!
Y cúi người chui vào. Bệ đá bên dưới tượng thần vốn rỗng ruột, phía trên lại thông với phần thân tượng, không gian không lớn, vừa đủ ngồi một người. Khương T.ử Phong chui vào khoang trống trong bệ, ngẩng đầu lên vừa hay có thể nhìn qua khe nứt nơi chân tượng ra ngoài đại điện, động tĩnh bên ngoài nghe rõ mồn một.
Khương T.ử Phong ngồi trong khoang bệ đá, sờ vách đá lạnh buốt, không vội mừng.
Y trong lòng hiểu rõ – hung danh của ngôi miếu này đã đồn khắp thành suốt hai tháng, người trong thành tránh còn chẳng kịp, nhưng trước khi xảy ra chuyện rất nhiều người đến đây thắp hương bái thần, còn khá linh nghiệm.
Y không định cố tình làm ra thần tích quá lộ liễu.
Càng cố ý càng dễ để lộ sơ hở. Người phố chợ vốn tin lời đồn hơn tận mắt thấy, y chỉ cần chờ một cơ hội thích hợp, mượn một chuyện có thật để tiếng “linh nghiệm” của ngôi miếu tự nhiên lan truyền ra ngoài.
Y không vội, cứ ngày ngày trốn trong mật đạo ngồi xổm, từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn, nghe gió thổi lá rụng, nghe chim hoang vỗ cánh, cũng nghe tiếng người thỉnh thoảng qua lại trên đường bên ngoài. Y cũng đang nghĩ cách bày mưu.
Ngồi đến chiều ngày thứ ba, bên ngoài bỗng truyền đến tiếng bước chân vụn vặt, chần chừ, mang theo tiếng khóc.
Ngay sau đó, cửa miếu “két” một tiếng bị đẩy nhẹ, một bóng người còng lưng lê vào, “phịch” một tiếng quỳ xuống trước bàn thờ.
Là một bà lão bán đậu phụ, họ Lưu, nhà ở đầu ngõ bên kia sông, ngày ngày gánh đậu phụ rao bán dọc phố, Khương T.ử Phong ra ngoài luôn gặp. Bà lão tóc bạc, trên người còn đeo tạp dề dính bã đậu, trong tay nắm nửa nắm hương, run run châm lửa, nước mắt theo đó rơi xuống.
“Thần quân thứ tội… bà lão biết nơi này chẳng ai dám bén mảng, thật sự là đường cùng rồi…” Bà dập đầu một cái, giọng run rẩy, “Con lừa kéo cối xay của tôi, đêm qua bị người ta trộm mất, đó là kế sinh nhai của hai bà cháu, cháu tôi còn đợi tiền bán đậu phụ để bốc t.h.u.ố.c… thần quân nếu giúp tôi tìm lại, bà lão tôi tháng tháng đến cúng, ngày ngày thắp hương cho ngài…”
Bà lẩm bẩm khóc nửa ngày, lại dập đầu ba cái, mới lau nước mắt, vừa đi vừa ngoái lại rời đi.
Khương T.ử Phong trong mật đạo lặng lẽ nghe hết, ngón tay gõ nhẹ vách đá.
Con lừa ấy y biết, là lừa xám, già một chút, nhưng sức kéo còn vững, bà Lưu ngày ngày dựa vào nó kéo cối xay đậu làm đậu phụ.
Mấy hôm trước còn nghe nói cháu bà mắc chứng lao, ngày ngày phải uống t.h.u.ố.c, trong nhà toàn dựa vào con lừa này chống đỡ.
Kẻ trộm lừa y cũng đoán được đại khái.
Thành bắc có một bọn côn đồ, chuyên làm chuyện trộm gà bắt ch.ó, mấy hôm trước từng trộm dê nhà Vương Nhị đầu ngõ, chuyển tay bán đến lò gạch hoang ngoài thành.
Nhưng chuyện này, với người khác khó như lên trời, với y, chẳng qua chỉ là chuyện chạy một chuyến trong đêm.
Vừa cứu được cái khốn của bà lão, vừa mượn chuyện này để tiếng tăm ngôi miếu lan truyền ra – một công đôi việc.
Đêm đó trời tối gió lớn. Khương T.ử Phong mò ra mật đạo, lật ra đại viện họ Tằng, thẳng đến thành bắc.
Y thân thủ lanh lẹ, đạp tường vượt viện như đi trên đất phẳng, không tốn bao công phu liền tìm thấy con lừa xám trong lò gạch hoang ngoài thành, bên cạnh hai tên côn đồ đang ngồi xổm uống rượu, định trời sáng sẽ kéo ra chợ bán.
Y lặng lẽ áp sát, điểm huyệt ngủ của hai tên côn đồ, tiện tay dùng dây thừng trói cả hai vào cột gỗ, rồi mới cởi dây cương dắt lừa đi.
Dọc đường dắt về miếu, buộc lừa vào cây hòe già bên cạnh cửa miếu, lại nhặt một hòn đá, đè một tờ giấy trên bàn thờ – chữ là y cố ý viết xiêu vẹo, giả b.út tích thần minh, chỉ viết sáu chữ “Lừa đã về, mau dắt về”.
Làm xong tất cả, trời vừa hửng sáng. Y lặng lẽ lật về viện hoang, theo mật đạo về nhà, a bà còn đang ngủ trong phòng, cháo trên bếp vẫn còn ấm.
Qua ngọ ngày hôm sau, bà Lưu nửa tin nửa ngờ lê đến cửa miếu, vừa đến nơi đã thấy con lừa xám buộc trên cây hòe, đang nhàn nhã gặm vỏ cây.
Bà lão lập tức bật khóc, lảo đảo xông vào miếu, quỳ trước tượng thần dập đầu bảy tám cái vang dội, miệng “thần quân hiển linh” không ngớt.
Chuyện này trong ngày liền truyền khắp nửa phố dài.
Ban đầu còn có người không tin, nói bà Lưu nhớ lừa phát điên. Nhưng con lừa ấy quả thật đã tìm về, hai tên côn đồ trong lò gạch cũng bị người ta phát hiện trói ở đó, hôn mê nửa ngày.
Ai nấy đều lấy làm kinh ngạc, nói vị thần được thờ trong ngôi miếu này quả nhiên vẫn còn linh nghiệm, tuy nhà xảy ra chuyện dữ, thần uy vẫn còn.
Dần dần, liền có kẻ gan lớn, hoặc đường cùng, mang hương nến lễ vật, lén mò đến miếu bái thần.
Khương T.ử Phong trốn trong mật đạo, nghe tiếng bước chân, tiếng cầu nguyện trên đầu càng lúc càng nhiều, dùng b.út mực giấy nghiên ghi lại chuyện của mọi người, khóe miệng khẽ nhếch lên nụ cười.
“Bước đầu tiên, thành rồi.”
Không có thần thì sao?
Ta chính là thần.
