Ta Mở Tiệm, Kiếm Tiền, Cưới Tri Huyện - 12
Cập nhật lúc: 04/03/2026 05:02
12.
Bận rộn suốt một ngày dài, đến bữa cơm tối, Nương ta đắc ý tuyên bố trước mọi người:
“Hôm nay nhà ta lãi sạch bảy lượng bạc!”
Cả nhà nghe vậy, tinh thần lập tức phấn chấn, A Hương thì càng hào hứng:
“Hả? Nhiều thế sao? Giá mà ngày nào cũng có hội chùa lớn thì tốt biết mấy!”
“Nghe ta nói cho rõ, trong đó hơn bốn lượng là từ quán ăn và bán hàng mà có, hơn Nhị Lượng là tiền bồi thường do khách gây sự.
Hôm nay ở quán ăn nhỏ, có hai nhóm khách đang ăn lại cãi nhau chỉ vì chuyện cỏn con…”
Nương ta nói chuyện vừa cười vừa diễn tả bằng tay, kể rành rẽ vụ đ.á.n.h lộn ở quán nhỏ, rồi mắt sáng rỡ, quay sang hỏi ta về chuyện ở chợ suối Bích La.
“Cái rổ đậu giá ấy, người ta thật sự đưa con một nén bạc à?”
“Làm gì có giả! Khi ấy con ngựa của hắn suýt nữa đ.â.m trúng con, làm con sợ muốn c.h.ế.t.”
“Thế hắn trông thế nào?”
Ta nghiêng đầu nhớ lại:
“Hắn mặc áo trắng tơ kén, người cao, không béo cũng chẳng gầy. Trán, má và ch.óp mũi đều bị trầy, rớm m.á.u, vừa bẩn vừa t.h.ả.m.
À, mắt hắn kém lắm, cứ nhìn con mãi, tai cũng chẳng nghe rõ, nói chuyện phải hét to mới hiểu.
Lúc đi còn khập khiễng, có lẽ là vì ngã.”
Cha ta đang cầm bát cơm, thoáng rùng mình:
“Trong lịch hôm nay ghi rõ ‘sát phương Nam’, mà suối Bích La chẳng phải ở hướng Nam sao!
Nữ nhi à, sau này ra ngoài nhớ che khăn mặt đi, kẻo gặp phải bọn háo sắc.
Nghe bảo tên đó là quan, may mà Đậu Nha con không bị thương, chứ dân như ta thì biết lấy gì mà nói lý với quan?”
Nương ta c.ắ.n bánh bao, lắc đầu cảm thán:
“Haizz, thời Thái Tổ, nếu dân bị oan, chỉ cần đội quyển Đại Cáo lên đầu là có thể áp giải quan lại tham tàn lên kinh xử tội.
Giờ thì chẳng còn cái thời dân dám đấu với quan ấy nữa.”
Cha ta giận dữ gõ bát:
“Hừ! Nếu còn cái lệ đó, ta là người đầu tiên đưa tên Văn huyện thừa khốn kiếp kia đi nộp!”
Cha nương ta phẫn uất, còn trong đầu ta lại liên tục hiện ra hình ảnh tên kia ngã sấp trước quầy hàng, trên đầu còn úp cái rổ mây, buồn cười muốn c.h.ế.t.
“Ha ha ha, mọi người không thấy cảnh hắn lúc đó đâu, thật t.h.ả.m! Không biết ai lại lén đốt đuôi ngựa của hắn nữa.
Nghe bảo là bọn trẻ con nghịch dại, không biết nhà đứa nào lại vô phúc như thế…”
Ăn cơm xong, Nương ta mang số bạc sang phòng bà nội, nhưng bà chỉ thản nhiên xua tay:
“Con cất đi, để dành làm của hồi môn cho Đậu Nha. Đó là khí thế của Nữ nhi Vương gia.”
Một câu ấy chạm vào nỗi đau trong lòng, Nương ta đỏ mắt, khẽ “vâng” một tiếng, rồi trở về phòng, cất bạc vào chiếc hộp gỗ nhỏ, khóa lại.
Đến đầu xuân, thời tiết dần ấm lên, dân quê lại bắt đầu cày cấy mưu sinh.
Ban ngày cha ta làm việc trong rừng và ruộng trên sườn núi, về nhà lại cặm cụi đan rổ, đan giỏ, làm đồ tre suốt đêm.
Nương ta sau khi lo xong nhà kính trồng giá thì tất bật trông quán ăn nhỏ sau nhà, sáng đi sớm, tối mới về, hiếm khi được nghỉ ngơi.
Còn ta thì phơi trái cây khô, đào rau dại, bới t.h.u.ố.c nam, bắt bọ cạp… muốn lật tung cả đất quanh núi quanh làng để đổi lấy bạc.
Năm ta bảy tuổi, từng có một lão hòa thượng ghé xin nước uống, ông chỉ vào cánh cửa gỗ mục nát của nhà ta mà thề thốt:
“Nhà này, sớm muộn gì cũng phát tài.”
Chính vì lời đó, ta như hóa điên, suốt ngày ôm mộng làm giàu, đến nỗi trong mơ cũng thấy mình gặm vàng thỏi.
Nhưng dù có bận rộn quay cuồng đến mấy, ta vẫn phải tranh thủ giờ rảnh để học chữ, dưới sự giám sát của bà nội.
Vương gia có gia huấn:
“Con cháu đời sau không được làm kẻ mù chữ.”
Vì thế, mỗi ngày bà nội đều ngồi xếp bằng trên giường sưởi, nghiêm túc dạy ta và A Hương đọc, viết từng chữ một.
Tuy nhà ta giờ đã sa sút, nhưng trong nhà kho sau vườn vẫn còn vài rương sách cũ truyền lại từ tổ tiên.
Trong đó có cả bản thảo quý của các danh gia, ngày xưa ông nội dù phải bán nhà, bán ruộng, vẫn giữ lại mấy rương sách ấy để khỏi mất mặt với đời đọc sách.
Bà nội ta vốn là a hoàn của nhà quyền quý, từng theo tiểu thư đọc sách, nên cũng có chút học thức.
Dù hàng xóm thường cười chê bà ra vẻ, bà vẫn giữ vững gia phong, dạy dỗ chúng ta vô cùng nghiêm khắc.
Bà không chỉ dạy ta chữ nghĩa, mà còn truyền lại cho ta tay nghề nấu ăn tuyệt hảo.
Rau củ, trái cây trước nhà sau vườn, chỉ cần qua tay ta, nhất định tươi ngon, ngọt miệng, lưu hương trên đầu lưỡi.
Nếu không phải vì sớm đã đính hôn, phải giữ mình chờ ngày xuất giá không tiện lộ mặt ngoài, thì e là ta đã theo nương ra quán nhỏ buôn bán từ lâu rồi.
Thoắt cái đã đến đêm rằm tháng Hai mười sáu. Trăng sáng treo cao, ánh bạc rải khắp nhân gian, trong trẻo mà tĩnh lặng.
Nửa đêm, khi cả nhà đang say ngủ, bỗng có người ngoài cửa gào lớn:
“Đây có phải nhà của Vương Hạ Hoa không? Nữ nhi nhà các người sắp sinh rồi, hình như khó sinh!
Triệu gia bảo ta mau đi mời người nhà sang ngay!”
Giữa đêm khuya thanh vắng, tiếng gọi ấy vang lên như quỷ gào dưới địa ngục, làm cả nhà ta kinh hãi bật dậy.
