Thập Niên 60: Cuộc Sống Tốt Đẹp - Chương 19.1: Thanh Niên Trí Thức Và Kiếp Nạn Thịt Lợn Rừng (1)
Cập nhật lúc: 20/04/2026 02:34
Triệu Kiến Thiết đúng là người tốt bụng. Nghĩ khách đến chơi nhà, cả làng được ăn thịt mà để thanh niên trí thức gặm lương thực thô thì coi sao được? Nhưng anh ta quên mất một điều: đám thanh niên trí thức này toàn dân thành phố tay mơ. Trong nhóm tuy có người biết nấu cơm nhưng làm sạch lòng lợn lại là chuyện khác. Còn khúc xương ống to tướng kia, thịt đã bị lọc sạch sành sanh, hầm lấy nước trong veo thì có gì mà ăn?
Lúc ấy Triệu Kiến Thiết nào nghĩ nhiều thế. Dẫn người về đến điểm thanh niên trí thức, anh ta chỉ bừa người lớn tuổi nhất làm nhóm trưởng. Sau đó dặn dò qua loa: bếp có lương thực thô đủ ăn hơn nửa tháng, tháng sau họp mặt sẽ phát tiếp; củi dùng được hai ba ngày, hết thì tự đi nhặt; ở đây xa sông, giặt giũ lấy nước phải ra giếng đầu làng. Cuối cùng anh ta dặn thêm: sáng mai gà gáy là phải dậy, sẽ có người đến dẫn đi làm, còn chiều nay thì nghỉ ngơi cho lại sức.
Dặn xong Triệu Kiến Thiết chuồn thẳng. Anh ta nghĩ đám này tuy trẻ nhưng cũng mười sáu, mười bảy tuổi cả rồi, không mong làm nên trò trống gì nhưng chắc cũng biết tự lo thân chứ? Ở quê anh ta, trẻ con sáu bảy tuổi đã biết trông em, đứa nào hiểu chuyện còn biết phụ giúp việc nhà.
Rõ ràng là anh ta đã mơ mộng quá nhiều, hoàn toàn không ý thức được mình vừa rước về một đám "công t.ử bột, tiểu thư khuê các". Nhưng lúc này, tâm trí anh ta chỉ có thịt lợn, hơi đâu mà lo xa.
Lúc này cả đội sản xuất nhà nào cũng thơm nức mùi thịt. Nhà nào nhanh tay thì đã được ăn, nhà nào chậm thì nồi nước cũng đang sôi sùng sục, tỏa hương ngào ngạt.
Thơm thật đấy, còn hào hứng hơn cả Tết.
Nghĩ cũng phải, Tết là mùa đông, thịt chia về còn để được vài ngày. Hơn nữa lợn nhà nuôi nhiều mỡ, phải rán lấy mỡ nước, phần thịt còn lại chia nhỏ ra để ăn dè mấy ngày Tết, làm sao sướng bằng lúc này.
Lợn rừng nhiều thịt, chắc nịch, mỗi tội không có mỡ. Con lợn này già rồi nên thịt dai ngoách, ăn vào tốn răng lắm.
Hiếm khi được bữa thịt, nhà nào cũng chơi sang. Mới tháng Năm, trời chưa nóng lắm nhưng thịt để ba ngày là hỏng, thà ăn no căng bụng còn hơn để hỏng phải vứt đi. Thế là nhiều nhà chẳng thèm nấu cơm, cứ thế hầm một nồi thịt to tướng. Thịt thái miếng vuông vức, tẩm ướp gia vị, hầm lửa lớn cho gần chín rồi thả khoai tây vào, ngon tuyệt cú mèo.
Khoai tây hầm thịt, món này ngày Tết mới được ăn. Trước kia là mấy miếng thịt hầm với cả nồi khoai, giờ thì hai phần khoai một phần thịt. Hiếm khi có thịt lợn, bình thường nấu ăn tiết kiệm gia vị, hôm nay bao nhiêu hoa hồi thảo quả trong nhà lôi ra dùng hết. Thịt chưa chín mà cả nhà đã chầu chực ở cửa bếp, nuốt nước miếng ừng ực.
Nhà lão Tống cũng vậy. Vì bà Triệu là công thần nên được chia thịt đầu tiên được tận mười hai cân. Trương Tú Hòa và Vương Bình phụ trách nấu nướng, hai chị em dâu mạnh tay cho thịt, gia vị và tất nhiên không quên khoai tây. Rau củ hầm chung với thịt ngon chẳng kém gì thịt, ngày Tết là món này hết bay đầu tiên.
Bà Triệu về đến nhà thì nồi thịt hầm khoai tây đã mềm. Chưa vào sân đã ngửi thấy mùi thơm nức mũi. Nói công bằng thì thịt lợn rừng có mùi gây gây, không thơm bằng lợn nhà. Nhưng với bà Triệu thì mùi này thơm nhất trần đời, đúng là "con lợn bà đ.á.n.h" có khác.
Vào bếp, bà phán xanh rờn:
“Khỏi cần múc ra đĩa, chốc nữa mỗi người một cái bát tô, ai ăn tự vào mà múc, bao no!”
Trương Tú Hòa và Vương Bình lúc nấu hăng quá, giờ mới thấy nồi thịt to vật vã, khéo cả nhà ăn đến bể bụng. Vốn sợ bị mắng hoang phí, ai dè mẹ chồng lại vui ra mặt chẳng để bụng gì. Bà lấy hai cái bát múc đầy cho mình và ông lão. Còn đám con cháu thì tự túc là hạnh phúc, ai rảnh mà hầu?
Nhiều nhà trong đội cũng giống nhà lão Tống. Hiếm khi được bữa thịt, nhiều người bê bát tô đi ăn rong hoặc ngồi xổm ngay đường làng, vừa ăn vừa tán gẫu rôm rả.
Cả đội sản xuất vui như trẩy hội.
Trừ điểm thanh niên trí thức.
Xương ống lợn cũng được, hầm canh ít ra còn có tí váng mỡ. Nhưng lòng lợn thì chịu c.h.ế.t, dân thành phố thỉnh thoảng mới ăn thịt, lòng mề toàn mua loại làm sẵn. Đám thanh niên này toàn trẻ con mới lớn, hì hục làm sạch được bộ lòng cũng mệt bở hơi tai.
Ngửi mùi thịt thơm nức trong không khí, lại phải gặm lương thực thô rát họng, dù canh xương có ngon đến mấy họ cũng chẳng nuốt trôi.
Chẳng phải bảo người nhà quê hiếu khách lắm sao? Sao nhà mình ăn thịt lại bắt khách tự nấu cơm chan canh loãng? Đáng lo hơn là nghe giọng điệu ông đại đội trưởng lúc nãy, sáng mai họ phải dậy sớm ra đồng làm việc với đám nông dân chân đất này ư?
Mười thanh niên trí thức, bảy nam ba nữ, tuổi từ mười sáu đến hai mươi. Mấy cậu con trai còn đỡ, ăn uống kham khổ chút cũng không kêu ca gì. Nhưng ba cô gái thì sầu thối ruột. Từ lúc Triệu Kiến Thiết đi, họ than ngắn thở dài không ngớt: nào là tường đất mái tranh sao ở được, nào là trong phòng trống hoác chẳng có gì ngoài mấy cái giường, cơm nước thì khó nuốt...
Tóm lại, cái chốn khỉ ho cò gáy này chẳng có điểm nào ưng ý cả!!
...
Ngoài đám thanh niên trí thức đang tuyệt vọng, trong đội còn một người sầu não hơn, đó là con dâu thứ ba nhà lão Tống, Viên Lai Đệ.
Nghe tin mẹ chồng đ.á.n.h được lợn rừng, ban đầu cô ta không tin. Đến khi tận mắt thấy người ta khiêng con lợn to đùng xuống núi, cô ta nhìn từ xa một cái rồi... nôn thốc nôn tháo.
Phải nói là lợn rừng hôi thật. Người thường nghĩ đến miếng thịt sắp vào mồm thì nhịn được tất. Nhưng Viên Lai Đệ lại là bà bầu đang nghén!
Trước kia, ngày nào cũng cháo khoai bánh ngô, cô ta thỉnh thoảng nôn khan một tí. Sau đó nhà có gà rừng, thịt thỏ, may là gà ít mùi, thỏ cô ta không ăn nên không biết mình sợ mùi thịt. Giờ nhà hầm thịt, chưa kịp ăn miếng nào cô ta đã buồn nôn, oẹ lên oẹ xuống.
Ngửi đã không chịu nổi thì ăn uống gì?
Khổ nỗi, nhà nào trong đội cũng hầm thịt, đi đâu cũng ngửi thấy mùi thịt nồng nặc.
Viên Lai Đệ bị hun cho ch.óng mặt hoa mắt, nôn đến mức tưởng tắt thở. Nồi thịt hầm khoai tây to tướng, đừng nói thịt, đến miếng khoai cô ta cũng không nuốt nổi, đúng là không có cái số hưởng.
Chỉ thế thôi thì đã đành, đằng này cả nhà ai cũng ăn uống tưng bừng. Hỉ Bảo răng yếu không ăn được thịt, chỉ húp nước canh và ăn khoai tây nghiền nát ngấm đẫm nước thịt, con bé ăn ngon lành cành đào. Mao Đầu cũng thế, tuy lớn hơn Hỉ Bảo nửa tháng nhưng cũng chưa nhai được thịt, may mà khoai tây cũng ngon tuyệt.
Trẻ con không chấp, điều làm Viên Lai Đệ bực nhất là Tống Vệ Dân ăn uống nhiệt tình hơn ai hết. Chén xong bát tô đầy, nghe vợ bảo không ăn, anh ta quay ngoắt ra bếp múc thêm bát nữa, ăn chùn chụt ngon lành.
Thế là Viên Lai Đệ lại nôn.
Chồng còn chẳng quan tâm thì mong gì người khác? Mẹ chồng đã bảo thịt với khoai trong nồi, ai ăn thì múc, mọi người tranh thủ ăn nhanh kẻo hết phần.
Đợi cả nhà ăn no căng rốn, Viên Lai Đệ mới nôn xong, bụng rỗng tuếch, nôn ra cả mật xanh mật vàng. Cô ta tóm được chồng, bắt anh ta nấu cho bát cháo trắng.
Chẳng ai làm khó cô ta vụ này nhưng khổ nỗi trong nồi vẫn còn hơn nửa nồi thịt hầm, dù Tống Vệ Dân lấy nồi khác nấu cháo thì mùi thịt vẫn ám nồng nặc. Bát cháo trắng bưng lên, Viên Lai Đệ chưa kịp động đũa đã ngửi thấy mùi dầu mỡ lại “oẹ” một tiếng nôn tiếp.
Cả buổi chiều hôm đó, cô ta nằm bẹp dí trên giường trong tuyệt vọng. Cửa sổ đóng kín mít mà mùi thịt vẫn len lỏi vào. Muốn ra ngoài đi dạo cho thoáng nhưng chân tay bủn rủn, không ai dìu thì đi đâu được? Đã thế cả nhà ăn uống no say xong, bát đũa chưa kịp rửa đã lại kéo nhau đi làm.
Đói, buồn nôn, khó chịu, sống sao nổi đây?
Đúng là khó sống thật. Mẹ chồng đời nào vì cô ta mà đổi thực đơn cả nhà? Cô ta không ăn thì thôi, nấu cháo ăn riêng chẳng ai cấm, tốn tí củi đáng là bao. Nhưng cô ta không thể bắt cả nhà nhịn thịt ăn cháo cùng mình được. Thịt để lâu thì hỏng, cô ta không ăn thì người khác thèm nhỏ dãi ra ấy chứ.
Viên Lai Đệ càng thêm tuyệt vọng, cảm giác cả thế giới đang chống lại mình.
Đến bữa tối, Trương Tú Hòa và Vương Bình lại vào bếp trổ tài. Đoán ý mẹ chồng đang vui, hai cô con dâu mạnh tay cho thịt, cho gia vị. Cùng trong một sân, cửa bếp mở toang, mùi thơm nồng nặc khiến Viên Lai Đệ trốn trong phòng cũng không chịu thấu.
