Thiêu Bùa - 3
Cập nhật lúc: 24/09/2026 02:01
“Năm kia, ta đến Thanh Châu tra án muối gặp phục kích, nàng ấy đỡ giúp ta một nhát đao.”
“Bị thương ở đâu?”
Hắn không trả lời.
Ta bật cười: “Mùa hè năm ngoái, ta theo ngoại tổ mẫu đến Thanh Châu lễ Phật, vừa hay từng thấy nàng ta thay y phục.”
“Lưng và vai đều không có vết thương.”
“Chu thủ phụ, trước khi nói dối, chàng lười đến mức không thèm đối chứng từ sao?”
Yết hầu Chu Hạc Đình khẽ động.
Ta ném một hộp gấm xuống chân hắn.
Trong hộp là trâm phượng, vòng ngọc hắn từng tặng ta, cùng tất cả thư tình năm năm từ ngày thành thân.
“Khế nhà là thật, ngày mai ta chuyển đi.”
“Còn vị trí Chu phu nhân, ai thích ngồi thì ngồi.”
“Thẩm Vân Hành, nàng đừng hối hận.”
“Người hối hận sẽ là chàng.”
Ta giơ tay đóng cửa.
Cánh cửa va mạnh vào vai hắn, khiến hắn loạng choạng lui xuống bậc đá.
Đêm ấy hắn đứng ngoài cửa bao lâu, ta không hỏi.
Trước khi trời sáng, ta mang theo những tấm ván in còn sót của mẫu thân và chiếc hộp gỗ mun, rời kinh qua cổng tây.
Chu Hạc Đình chắc chắn ta sẽ tới nhà ngoại tổ.
Hắn phái người canh ba tuyến dịch đạo dẫn về Kim Lăng suốt bảy ngày mà chẳng thấy bóng ta.
Ta đi đường thủy.
Huyện Lâm Triều nằm ở bờ biển đông nam, cách kinh thành một ngàn bốn trăm dặm.
Trong “Hải Vận Lục” mẫu thân để lại, địa danh này xuất hiện lặp đi lặp lại.
Khi thuyền tới Lâm Triều, một đợt phong triều ngoài biển vừa qua.
Nửa mái lán ở bến tàu bị quật đổ, hòm hàng ướt sũng chất đầy ven bờ.
Một nam t.ử áo xanh xắn ống quần, dẫn người cứu những quyển sách ngâm nước.
Hắn vớt từ trong nước lên một quyển huyện chí, ngẩng đầu trông thấy ván gỗ lê trong tay ta.
“Ván in không được dính nước biển.”
“Phố Tây có kho trống, chuyển qua đó trước.”
Hắn tên Yến Trì, tân huyện lệnh Lâm Triều.
Nghe nói trước kia hắn làm việc ở Đại Lý tự, vì tra án đắc tội tông thất nên bị biếm đến đây.
Người ngoài nhắc chuyện cũ đều tiếc thay hắn, còn bản thân hắn ngày ngày xắn tay áo sửa đê, phơi muối, nhặt sách rách, như chưa từng để kinh thành vào mắt.
Ta thuê lại hiệu sách Trịnh gia bỏ hoang ở phố Tây.
Mái nhà dột, cỏ dại trong sân cao tới thắt lưng.
Lâm bá nhìn mà thở dài mãi.
Ta lại vừa liếc mắt đã ưng ngay chiếc giếng ép giấy ở hậu viện.
Trên thành giếng khắc hoa văn Thê Ngô.
Mỗi tờ giấy mẫu thân từng dùng đều có một vân nước hình ngô đồng cực mờ ở góc phải phía dưới.
Người thường không nhìn thấy, chỉ khi ngâm qua nước phèn mới hiện hình.
Nơi này chính là “giấy từ Lâm Triều” bà viết trong thư.
Lão chưởng quầy Trịnh gia nghe tin, chống gậy tìm tới.
“Cô là nữ nhi của Tần Hành Quân?”
Tần Hành Quân là tên mẫu thân khi chưa xuất giá.
Ta gật đầu.
Lão nhân quỳ xuống liền khóc: “Đông gia đợi cô lâu lắm rồi.”
Năm ấy mẫu thân phát hiện sổ cứu tế có giả, ra lệnh cho xưởng giấy Lâm Triều làm riêng một lô giấy có hai loại vân nước.
Sổ thật dùng vân ngô đồng, sổ giả dùng vân sen tịnh đế.
Lô giấy giả ấy do phụ tá bên cạnh phụ thân đặt làm.
Người đứng ra giao dịch họ Liễu.
Chính là cữu phụ của Tô Oản Oản.
“Sổ thật đâu?”
Lão chưởng quầy lắc đầu: “Đông gia nói giấu ở nơi không sợ lửa nhất.”
“Bà còn chưa kịp nói cho chúng tôi, tin dữ từ kinh thành đã truyền tới.”
Ta nhìn chiếc giếng trong sân.
Ngay trong ngày, ta cho người rút cạn nước, dưới đáy giếng ngoài bùn chỉ có mấy khúc gỗ ngâm mục.
Yến Trì ngồi xổm bên giếng nhìn một lúc, bỗng gõ nhẹ lên vách giếng.
“Nơi không sợ lửa nhất, chưa chắc là trong nước.”
Gạch đá được tháo ra, trong lớp rỗng lộ ra một hàng ống đồng.
Sổ thật đã ngủ trong đó suốt những năm tháng dài, mặt đồng phủ một lớp xanh sẫm.
Phần lớn ống đồng chứa những trang sổ, chỉ chiếc cuối cùng lại đựng một cuộn khế thuê thợ của xưởng giấy.
Trên khế chen kín tên những người thợ năm đó.
Trịnh lão chưởng quầy lần lượt chỉ cho ta xem.
Có người c.h.ế.t trong nạn lũ, có người đổi nghề làm ngư dân, còn hơn mười hộ vẫn sống ở Lâm Triều, chỉ vì năm xưa bị liên lụy bởi vụ án cứu tế mà từ đó không ai dám thuê nữa.
“Sau khi Tần đông gia xảy ra chuyện, quan phủ nói chúng ta giúp tham quan làm sổ giả.”
“Xưởng giấy bị niêm phong, hai vị sư phụ già không chịu nổi hình phạt, c.h.ế.t trong ngục.”
“Những người còn lại đập nát máng giấy, đốt thẻ thợ rồi ai đi đường nấy.”
Ông xắn tay áo lên.
Trên cánh tay còn lưu một vết nung sắt, là dấu “thợ làm giả” năm đó nhà lao đóng lên những người bị kết là làm giả.
Ta cất khế thuê thợ, hôm sau liền lần lượt tới từng nhà tìm người.
Ban đầu có mấy nhà đóng cửa không gặp, còn có người ném lễ vật của ta xuống rãnh.
Gần tới chân núi, một lão nhân chột mắt chộp d.a.o gọt giấy, kề thẳng vào cổ ta.
“Tần gia hại chúng ta còn chưa đủ?”
“Giờ nữ nhi của bà ta lại đến làm gì?”
Ta không lùi.
“Đến mở lại Thê Ngô Trai.”
Lưỡi d.a.o ép ra một vệt m.á.u trên cổ.
“Dựa vào đâu mà bảo chúng ta tin cô?”
“Không cần tin.”
“Tiền công mười ngày kết một lần, án cũ do ta lật lại.”
“Nếu các vị phát hiện ta dùng giấy giả, bất cứ lúc nào cũng có thể cầm con d.a.o này tới tìm ta.”
Lão nhân nhìn ta thật lâu, lúc thu d.a.o còn nhổ một bãi nước bọt xuống đất.
“Lão t.ử chỉ biết vớt giấy, không biết quỳ lạy quý nhân.”
“Ở Thê Ngô Trai, thợ thủ công không cần quỳ.”
Ông là người đầu tiên quay lại.
Sau đó ít lâu, những cái tên trên khế thuê thợ lần lượt xuất hiện trong sân hoang.
Người thì vá máng, người thì dựng giàn phơi.
Vị lão nhân chột mắt họ Kiều, miệng độc nhất mà tay cũng vững nhất.
Ông sờ loại bột trúc ta mua giá cao, mắng thẳng ta không biết hàng, quay người liền dẫn người lên núi tìm lại loại thanh đàn mẫu thân từng dùng.
