Tiếng Khóc Từ Hồ Sâu - 1
Cập nhật lúc: 27/06/2026 18:00
01
Hồ chứa nước của thôn chúng tôi, ba mươi năm nay không ai dám xuống.
Người già nói, dưới đáy nước đang trấn áp một thứ.
Không phải cá, không phải x/ á/ c ch/ ế/ t, mà là một con bạch long.
Hồi nhỏ tôi không tin.
Cho đến năm m/ ư/ ời tu/ ổ/ i, tôi cùng mấy đứa trẻ đến bên hồ nhặt trứng vịt trời, nhìn thấy dưới mặt nước có một con mắt.
Con mắt đó rất lớn, đỏ đến tối sẫm.
Nó nhìn tôi qua làn nước.
Tôi sợ đến mức ngồi bệt xuống bùn, ngay cả khóc cũng không khóc nổi.
Từ hôm đó trở đi, tôi không bao giờ đến gần hồ chứa nước nữa.
Nhưng mùa hè năm nay, trưởng thôn Triệu Vạn Thành muốn rút cạn hồ chứa.
Ông ta nói thôn nghèo quá lâu rồi, núi chặn tài, nước đè vận, chỉ có lấy con rồng dưới đáy hồ lên mới có thể đổi mệnh.
Lời này là thầy phong thủy nói.
Thầy phong thủy họ Mã, mặc một bộ đồ Đường đã giặt đến bạc màu, trong tay cầm la bàn, khóe miệng có một nốt ruồi đen.
Ông ta đứng trên đập hồ chứa nước, chỉ vào mặt nước nói:
“Rồng bị nhốt ba mươi năm, oán khí đã tan, đúng lúc lấy long mạch.”
Người trong thôn vây thành một vòng.
Có người hỏi:
“Thật sự có rồng sao?”
Ông Mã cười một tiếng.
“Có hay không, rút cạn chẳng phải sẽ biết à?”
Triệu Vạn Thành đứng ở phía trước nhất, trong tay kẹp điếu t.h.u.ố.c.
Năm nay ông ta sáu mươi hai tuổi, mặt vàng, bọng mắt xanh xám. Dạo trước ông ta kiểm tra ra gan có vấn đề.
Bệnh viện trong thành phố bảo ông ta mau chữa trị.
Ông ta không chữa.
Ông ta nói bệnh viện lừa tiền.
Ông ta nói thịt rồng có thể kéo dài mạng sống.
Ông ta nói m/ á/ u rồng có thể tụ tài.
“Mỗi người một miếng, cả thôn đổi đời.”
Câu này vừa thốt ra, mắt người trong thôn đều sáng lên.
Tôi đứng phía sau đám người, lưng toàn là mồ hôi lạnh.
Tôi không biết mẹ mình là ai, bố tôi mất khi tôi mới 12 tuổi.
Trong thôn không ai quản tôi.
Tôi dựa vào việc đưa hàng rừng cho quán ăn trên trấn để sống, bình thường không nhúng tay vào chuyện trong thôn.
Nhưng hôm đó tôi vẫn không nhịn được mở miệng.
“Không thể rút.”
Giọng không lớn, nhưng trên đập yên tĩnh lại một chút.
Triệu Vạn Thành quay đầu nhìn tôi.
“Hứa Hoài, cô nói gì?”
Tôi siết c.h.ặ.t dây đeo sọt.
“Hồ chứa nước không thể rút cạn.”
Bên cạnh lập tức có người cười.
“Cô ta lại nữa rồi.”
“Hồi nhỏ bị dọa đến ngốc, cứ nói dưới nước có mắt.”
“Một đứa không ai quản, biết cái gì. Cả ngày chỉ nói những chuyện quái dị thảo nào gần 30 tuổi chưa có ai lấy.”
Triệu Vạn Thành ném điếu thu/ ố/ c xuống đất, dùng đế giày nghiền nghiền.
“Hứa Hoài, đây là chuyện của thôn.”
“Nếu cô sợ thì cút xa ra.”
Tôi nhìn mặt nước.
Nước rất phẳng lặng.
Nhưng dưới sự phẳng lặng đó, giống như có thứ gì đang chậm rãi trở mình.
Ông Mã bỗng nhìn về phía tôi.
Mắt ông ta rất hẹp.
“Cô từng nhìn thấy nó?”
Tôi không nói gì.
Ông ta nhìn chằm chằm tôi, nụ cười trên mặt nhạt đi một chút.
“Nếu từng thấy, cô càng nên biết rồng là vật lành.”
Tôi nói: “Vật lành sẽ khóc sao?”
Xung quanh lại yên tĩnh.
Triệu Vạn Thành nhíu mày.
“Cô nói bậy gì vậy?”
Tôi chỉ vào mặt nước.
“Nó không phải vật c.h.ế.t.”
“Nó vẫn còn sống.”
“Hơn nữa trong bụng nó có thứ gì đó.”
Lời này vừa nói ra, trên đập lập tức nổ tung.
Có người mắng tôi xui xẻo.
Có người nói tôi điên rồi.
Còn có người nhổ nước bọt xuống cạnh chân tôi.
“Sống càng tốt chứ sao!”
Cháu trai của Triệu Vạn Thành là Triệu Dũng nhếch miệng cười.
“Thịt rồng tươi mới bổ.”
Hắn vừa nói xong, mấy người đều cười theo.
Tiếng cười dán theo mặt nước trôi qua.
Giữa hồ chứa nước bỗng nổi lên một vòng gợn sóng.
Không phải do gió thổi.
Mà là từ dưới đáy đẩy lên.
Một vòng.
Lại một vòng.
Sắc mặt ông Mã hơi đổi, nhưng rất nhanh lại đè xuống.
Ông ta giơ tay.
“Mở máy bơm.”
Ba chiếc máy bơm nước chạy dầu diesel được đẩy xuống dưới đập.
Ống đen thò vào trong nước.
Ầm một tiếng, máy móc vang lên.
Dòng nước phun ra từ đầu ống, xối vào mương cạn.
Mực nước hồ bắt đầu hạ xuống.
Tôi đứng trên đập, nhìn mặt nước từng chút từng chút rút xuống.
Mặt trời rất lớn.
Nhưng tay chân tôi lạnh buốt.
Buổi chiều, nước rút xuống hai mét.
Bên hồ lộ ra bùn đen.
Trong bùn đen có cá đang nhảy.
Trẻ con trong thôn hò reo chạy đi nhặt.
Người lớn cầm xô đựng.
Bọn họ cười như ăn Tết.
Đến chạng vạng, nước rút còn một nửa.
Giữa hồ chứa nước lộ ra một mảng màu trắng.
Ban đầu chỉ là một chút.
Sau đó là một đường cong.
Giống xương.
Cũng giống vảy.
Đám người khựng lại.
Triệu Vạn Thành thở hổn hển, hai mắt đờ ra.
“Có thật.”
“Thật sự có rồng.”
Giọng ông ta cũng run lên.
Ông Mã đứng bên cạnh ông ta, nhìn chằm chằm mảng trắng kia.
Tôi cũng nhìn chằm chằm.
Nước vẫn chưa rút cạn hoàn toàn.
Thứ màu trắng kia nửa chìm trong nước, to lớn, cuộn lại.
Trên người nó không có sừng như trong truyền thuyết.
Cũng không có móng vuốt.
Nó giống một con rắn khổng lồ bị nước ngâm đến trắng bệch, trên người phủ đầy vảy nhỏ dày đặc.
Bụng nó nhô cao.
Phập phồng lên xuống.
Nó đang thở.
Tôi lùi lại một bước.
“Nó sắp sinh rồi.”
Không ai để ý đến tôi.
Tất cả mọi người đều chen lên phía trước.
Triệu Dũng cầm cây chĩa sắt, hưng phấn đến mức mặt đỏ bừng.
“Chú, tối nay làm luôn à?”
Triệu Vạn Thành li/ ế/ m đôi môi khô nứt.
“Đợi nước cạn.”
“Không thể để nó chạy.”
Ông Mã lại không nói gì.
La bàn trong tay ông ta điên cuồng xoay tròn.
Kim la bàn va vào vỏ ngoài vang lên lách cách.
Tôi nhìn thấy tay ông ta đang run.
Nhưng ông ta rất nhanh đã úp la bàn lại, hạ thấp giọng nói với Triệu Vạn Thành:
“Trước khi trời tối nhất định phải ra tay.”
“Vì sao?”
“Nó sắp tỉnh rồi.”
Câu này, tôi nghe thấy.
Triệu Vạn Thành cũng nghe thấy.
Nhưng ông ta không sợ.
Ông ta chỉ nhìn sinh vật màu trắng kia, trong mắt toàn là tham lam.
Khi trời chạng vạng tối, đáy hồ chứa nước hoàn toàn lộ ra.
Thứ đó nằm trong bùn lầy, trên người quấn đầy xích sắt.
Xích sắt đã gỉ đen, to bằng miệng bát.
Có mấy sợi cắm sâu vào thịt nó.
Nó chậm rãi mở mắt.
Đôi mắt màu đỏ, cách mấy chục mét, rơi lên người tôi.
Cả người tôi cứng đờ.
Nó khóc.
Nước mắt trượt xuống từ khóe mắt, cũng là màu đỏ.
Sau đó bụng nó động một cái.
Giống như có thứ gì ở bên trong đang giãy giụa.
Giây tiếp theo, nó há miệng.
Không có âm thanh.
Nhưng bên tai tôi bỗng vang lên tiếng khóc của một người phụ nữ.
Rất khẽ.
Rất khàn.
Giống như đang cầu xin tôi.
Đi đi.
Mau đi đi.
Tôi lập tức bịt tai lại.
Triệu Dũng đã dẫn người lao xuống bãi bùn.
Chĩa sắt, dây gai, d.a.o c.h.ặ.t, thùng dầu diesel.
Bọn họ vừa hô vừa cười, giẫm bùn chạy về phía thứ đó.
Triệu Vạn Thành đứng trên đập hét lớn:
“Ai c/ ắt được th/ ị/ t rồng trước, chia hai cân!”
Đám người phát điên.
Tôi quay người bỏ chạy.
Sau lưng có người mắng tôi.
“Hứa Hoài, cô chạy cái gì?”
“Đồ nhát gan!”
Tôi không quay đầu lại.
Tôi chạy về nhà, lôi chiếc túi vải bạt dưới gầm giường ra.
Bên trong có mấy bộ quần áo, một con da/ o c.h.ặ.t củi, hai túi bánh lương khô, một chai nước, còn có chiếc la bàn cũ bố tôi để lại.
Tôi vẫn luôn để sẵn chiếc túi này.
Từ năm m/ ười tu/ ổ/ i nhìn thấy con mắt đó, tôi đã biết sẽ có một ngày mình dùng đến.
Ngoài cửa truyền đến tiếng gõ.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
“Hứa Hoài, mở cửa.”
Là Triệu Dũng.
Tôi nín thở.
Hắn cười ngoài cửa.
“Trưởng thôn bảo cô đến hồ chứa nước.”
“Chẳng phải cô nói nó còn sống sao?”
“Vừa hay, cô đi tiễn nó đoạn cuối.”
Tôi không lên tiếng.
Ổ khóa lắc lư.
Hắn đang cạy cửa.
Tôi vớ lấy túi, trèo ra từ cửa sổ sau.
Chân vừa chạm đất, cửa trước đã bị đá văng ra.
Triệu Dũng mắng một tiếng trong nhà.
“Người đâu rồi!”
Tôi cúi người, dán sát chân tường chạy về phía sau núi.
Phía đầu thôn, ánh lửa đã bừng lên.
Hướng hồ chứa nước truyền đến tiếng reo hò.
Còn có tiếng vật sắt c.h.é.m vào thịt nặng nề.
Một nhát.
Lại một nhát.
Tôi c.ắ.n c.h.ặ.t răng, không dám khóc.
Rừng sau núi tối rất nhanh.
Lúc tôi chui vào, chút ánh sáng cuối cùng nơi chân trời cũng biến mất.
Phía sau, trong thôn bỗng vang lên một tiếng hét t.h.ả.m.
Tiếng hét đó rất ngắn.
Giống như bị thứ gì bóp đứt từ cổ họng.
Ngay sau đó, hướng hồ chứa nước truyền đến một trận tiếng trẻ sơ sinh khóc.
Không phải một đứa.
Mà là một đám.
02
Tôi chạy trong rừng cả đêm.
Cành cây rạch rách mặt.
Nước bùn tràn vào giày.
Tiếng trẻ s/ ơ s/ i/ nh khóc phía sau vẫn luôn không dứt.
Nó truyền đến từ hướng hồ chứa nước, xuyên qua thôn, chui vào rừng núi.
Lúc xa lúc gần.
Giống như có thứ gì đó đang đi theo tôi.
Khi trời sắp sáng, tôi leo đến dưới vách Ưng.
Ở đó có một hang đá.
Trước kia bố từng dẫn tôi trốn lũ núi ở đó.
Cửa hang bị dây leo che lại, người không quen đường sẽ không tìm thấy.
Tôi chui vào, kéo dây leo về như cũ, cả người mềm nhũn ngã xuống đất.
Bên tai chỉ còn tiếng thở dốc của chính mình.
Qua rất lâu, tiếng khóc biến mất.
Trong núi yên tĩnh quá mức.
Tôi không dám ngủ.
Tôi đặt d.a.o c.h.ặ.t củi bên cạnh, ôm túi ngồi vào tận sâu trong hang.
Điện thoại không có sóng.
Trên màn hình chỉ còn một vạch pin.
Tôi muốn gọi cho đồn công an trên trấn.
Điện thoại không gọi được.
Tôi lại muốn gửi tin nhắn.
Gửi ba lần đều hiển thị thất bại.
Buổi trưa, dưới núi truyền đến tiếng chiêng đầu tiên.
Choang.
Choang.
Choang.
Đó là chiêng đồng trong thôn.
Chỉ khi có người ch/ ế/ t, hoặc bắt trộm, mới gõ.
Tôi bò đến cửa hang, vén nhẹ một chút dây leo nhìn xuống dưới.
Sương núi che khuất, không nhìn thấy thôn.
Nhưng tôi nghe thấy có người đang gọi.
“Hứa Hoài!”
“Hứa Hoài!”
“Trưởng thôn tìm cô!”
Giọng nói là Triệu Dũng.
Hắn còn sống.
Tim tôi trầm xuống.
Bọn họ lên núi rồi.
Tôi rụt về trong hang, siết c.h.ặ.t d/ ao c.h.ặ.t củi.
