Tình Thâm Độ Qua Chín Kiếp Luân Hồi - Chương 3
Cập nhật lúc: 26/07/2026 15:04
"Bình thường em ăn uống kiểu gì?"
"Em không thấy đói lắm."
"Không thấy đói lắm nghĩa là sao? Là người thì phải ăn cơm chứ."
Cậu ấy không đáp, chỉ mỉm cười rồi đ.á.n.h trống lảng sang chuyện khác.
09.
Trên đỉnh vực có một tế đàn cổ xưa. Tế đàn xếp bằng đá, đã bị phong hóa không biết bao nhiêu năm tháng, bề mặt nhẵn bóng lên. Tư Duật nói, người dân địa phương mỗi khi có ai qua đời đều sẽ đưa tới đây để cử hành Thiên táng.
Tôi đứng ở mép tế đàn nhìn xuống dưới, có thể thấy ở thung lũng xa xa có mấy con kền kền đang chao liệng.
Dân làng nhìn Tư Duật bằng ánh mắt rất khác biệt. Không phải kiểu ánh mắt hàng xóm nhìn nhau bình thường, mà mang theo sự kính sợ, thậm chí là có chút khiếp hãi.
Có một bà lão đi qua cạnh cậu ấy liền cúi đầu, hai tay chắp lại, trong miệng nhẩm đọc câu gì đó.
Tôi hỏi Tư Duật bà ấy vừa nói gì.
"Bà ấy nói [Bạch Mã Nhân Ba Thiết]."
"Nghĩa là sao?"
"Bạch Mã là pháp hiệu của em. Còn Nhân Ba Thiết... chính là Rinpoche, nghĩa là Hoạt Phật."
"Em là Hoạt Phật thật à?"
Cậu ấy lắc đầu: "Không phải. Chỉ là người giữ núi thôi. Các cụ già quen gọi như thế rồi."
Cậu ấy nói rất hời hợt nhẹ nhàng, nhưng tôi lại chú ý thấy miếng ngọc bích đeo trên cổ cậu ấy, khoảnh khắc bà lão kia nhìn thấy thì hai mắt đã trợn tròn lên.
Biểu cảm đó hoàn toàn không phải giả vờ. Bà ấy thật sự rất kính sợ.
10.
Cậu ấy đưa tôi đi dạo trên vực suốt hai ngày, dẫn tôi đi xem rất nhiều cờ kinh cũ. Có những dải cờ đã treo cả mấy trăm năm, màu sắc đều đã phai nhạt nhưng vẫn tung bay trong gió.
Cậu ấy giảng giải cho tôi nghe về ý nghĩa của kinh phan: màu xanh của bầu trời, màu trắng của mây ngàn, màu đỏ của ngọn lửa, màu xanh lục của dòng nước và màu vàng của mặt đất.
Cậu ấy giải thích vì sao phan trắng lại hiếm hoi. Không phải ai muốn treo cũng được, mà phải là người tu tạo thiện nghiệp mới có thể treo.
Cậu ấy nói chuyện bằng giọng điệu nhẹ nhàng, rất kiên nhẫn. Một câu hỏi của tôi thôi mà cậu ấy có thể giảng giải suốt nửa ngày.
Nhưng tôi luôn cảm thấy có gì đó sai sai. Cảm giác bất thường ấy ngày càng trở nên rõ rệt.
Thứ nhất, cậu ấy không ăn gì cả. Suốt hai ngày liền, tôi chưa từng thấy cậu ấy đụng đến một miếng ăn nào.
Lúc tôi ăn Tsampa* hỏi cậu ấy có đói không, cậu ấy bảo: "Không đói." (*Tsampa thực chất là bột lúa mạch (đại mạch) được rang chín rồi xay mịn, thường được nhào trộn trực tiếp với trà bơ ấm để ăn ngay.)
Lúc tôi ăn thịt bò tót khô hỏi cậu ấy có ăn không, cậu ấy bảo: "Không đói."
Tôi bảo em cố ăn chút đi, cậu ấy lại nói: "Thật sự không đói mà."
Làm sao có chuyện con người ta hai ngày liền không thấy đói chứ?
Thứ hai, cậu ấy không ngủ vào ban đêm. Tôi ở gian phòng khách bên cạnh nhà đá, thực chất chỉ là một gian nhà đá nhỏ hơn được kê thêm một chiếc giường.
Nửa đêm tôi thức dậy đi vệ sinh, qua khe cửa nhìn ra liền thấy cậu ấy đang ngồi ngoài sân, hướng mặt về phía tế đàn, ngồi im phăng phắc.
Tôi đứng nhìn một lúc lâu. Cậu ấy thật sự không hề nhúc nhích, thậm chí đến cả nhịp thở phập phồng cũng không nhận ra nổi, hệt như một bức tượng điêu khắc.
Thứ ba, cậu ấy biết quá nhiều chuyện về tôi. Lúc tôi thắc mắc: "Sao em biết anh thích uống trà ngọt?"
Cậu ấy khựng lại một chút rồi mới đáp: "Em đoán thôi."
Nhưng tôi chưa từng nói với bất cứ ai là tôi thích uống trà ngọt, đến cả ông nội tôi cũng không hề biết.
Lúc tôi hỏi: "Sao em biết anh sợ bóng tối?"
Cậu ấy lại bảo: "Đêm ngủ anh đâu có tắt đèn."
Tôi đúng là không tắt đèn thật, nhưng ngọn đèn trong phòng này là đèn dã ngoại do chính tôi mang theo. Chẳng lẽ trước khi tôi đến cậu ấy đã biết rồi? Cậu ấy đã quan sát tôi từ trước?
Thứ tư, là ánh mắt cậu ấy nhìn tôi. Ánh mắt ấy... tôi không tả nổi. Không phải ánh mắt người nam nhìn người nữ, cũng chẳng phải bạn bè nhìn nhau.
Đó là kiểu ánh mắt... như thể bạn đã ngắm nhìn một người suốt mấy trăm năm, mấy ngàn năm, đã khắc sâu người đó vào tận xương tủy, để rồi đến một kiếp nào đó mới lại tìm thấy người ấy...
Cậu ấy dùng ánh mắt như thế để nhìn tôi, rồi lại lập tức dời đi chỗ khác. Giống như chỉ cần nhìn thêm một giây thôi là mọi thứ sẽ vỡ tan ra vậy.
Trong lòng tôi ngày càng hoảng hốt, nhưng tôi không bỏ chạy. Vẫn chưa tìm được kinh phan, tôi chưa thể đi được.
11.
Đợi suốt ba ngày, linh điểu vẫn không trở về. Tư Duật nói không cần gấp, lúc nào chú chim đó nên về tự khắc sẽ về.
Nhưng tôi thì gấp lắm rồi. Tôi chỉ còn chưa đầy một năm nữa thôi. Vừa qua sinh nhật tuổi 25, theo lời Đạo sĩ kia nói là tôi sẽ tiêu đời.
Tối ngày thứ tư, tôi nằm trên chiếc giường trong nhà đá, trằn trọc xoay người mãi mà chẳng thể nào chợp mắt. Trong đầu tôi cứ vẩn vơ nghĩ về những bức tranh ấy.
Những bức tranh trong căn mật thất, thật ra tôi đã từng mò tới đó một lần rồi. Chính là vào buổi tối ngày thứ hai sau khi đến vách đá Linh Quy. Tư Duật có dặn [Đừng tiến lại gần phía tế đàn], nhưng tôi vẫn cứ tới.
Tôi đi một mình. Nương theo ánh trăng bước về phía sau núi, phía sau tế đàn có một khe nứt trên vách đá, lách người chui vào bên trong là một đường hầm sâu hun hút.
