Tôi Khiến Phật Tử Phá Giới - Chương 101: Tĩnh Lặng
Cập nhật lúc: 18/01/2026 20:46
Buổi sáng ở Thiệu Hưng, được đ.á.n.h thức nhẹ nhàng bởi tiếng mái chèo và sự ồn ào của chợ sớm. Sương mỏng chưa tan hết, ẩm ướt bám trên những con đường đá xanh và mái che của những chiếc thuyền ô bồng, lọc ánh sáng trời thành một màu xám trắng mờ ảo, phảng phất hơi nước. Ngôi nhà nhỏ của Thịnh Dĩ Thanh nằm ven sông, đẩy cửa sổ hoa ra là có thể thấy những người lái thuyền đội mũ nỉ không nhanh không chậm chèo thuyền, chở rau củ quả tươi, hoặc những người hàng xóm đi chợ sớm, lướt qua con kênh hẹp trước nhà, để lại những vòng sóng gợn lan ra từ từ.
Mỗi sáng sớm, gần như không thay đổi, ông ngoại lại chống cây gậy tre đã được mài nhẵn bóng, chậm rãi đi đến khu chợ trên phố cổ không xa nhà. Khi về, tay ông luôn vững vàng xách một chiếc bát sứ dày viền xanh, miệng bát được úp một chiếc bát khác, được bọc cẩn thận bằng một chiếc khăn sạch, hơi nóng bốc lên, qua lớp khăn vẫn có thể cảm nhận được sự ấm áp.
Thanh Thanh, ăn lúc còn nóng đi." Ông ngoại đặt bát lên chiếc bàn đá trong sân đã được năm tháng mài giũa trở nên ấm áp, mở nắp bát ra, một mùi hương quen thuộc hòa quyện giữa mỡ heo, hành lá và vỏ bánh thanh khiết lập tức lan tỏa, xua tan đi cái se lạnh của sương sớm. Đó là món hoành thánh nhỏ chính gốc Thiệu Hưng, vỏ mỏng như lụa, trong suốt lờ mờ thấy được chút nhân thịt hồng hào bên trong, nước dùng trong vắt, nổi lềnh bềnh những sợi trứng vàng và hành lá xanh mướt. Đây là hương vị cô đã ăn từ nhỏ, là sự quan tâm thầm lặng nhưng kiên định của ông ngoại.
Thịnh Dĩ Thanh ngồi xuống, dùng chiếc thìa sứ nhỏ nhẹ nhàng khuấy, nhìn những chiếc hoành thánh nhỏ như một đàn cá trắng bơi lội trong nước dùng trong. Cô múc một chiếc, thổi nhẹ, rồi đưa vào miệng.
Hương vị vẫn như xưa, tươi ngon dễ chịu. Nhưng không hiểu sao, đầu lưỡi lại mơ hồ nếm được một hương vị khác – là chiếc bánh lúa mạch thô ráp nhưng chân thật của cao nguyên, là trà bơ mang vị mặn chát nhưng dư vị đậm đà, là kết cấu của món ăn mang theo mùi nắng và cỏ đồng do đôi bàn tay chai sần của A Mụ Tang Cát nhào nặn.
Hai loại ấm áp hoàn toàn khác nhau giao thoa trong dạ dày, một ở ngay gần, một lại cách xa vạn dặm, khiến cổ họng cô hơi nghẹn lại. Cô cúi đầu, ăn từng miếng nhỏ.
Buổi chiều, ông ngoại theo lệ thường chợp mắt một lát. Trong sân chỉ còn lại những vệt nắng loang lổ, di chuyển chậm rãi. Thỉnh thoảng có vài con chim sẻ kêu ríu rít trên mái ngói, càng thêm tĩnh lặng.
Thịnh Dĩ Thanh đôi khi sẽ vào thư phòng. Đó là thế giới của ông ngoại, dựa vào tường là một hàng giá sách cao, tỏa ra mùi giấy mực cũ, bên cửa sổ là một chiếc bàn viết kiểu Minh rộng lớn, trên bàn bày ngay ngắn b.út, mực, giấy, nghiên.
Khi còn nhỏ, ông ngoại thường hay bế cô ngồi trong lòng, nắm tay cô, dạy cô tô chữ. Lúc đó cô, tâm tính nóng nảy, luôn cảm thấy những quy tắc của từng nét b.út thật gò bó, không thú vị bằng việc chạy ra bờ sông xem thuyền ô bồng, bắt tôm nhỏ, luôn ngồi không yên, vẽ nguệch ngoạc vài nét rồi trốn đi, cuối cùng cũng không luyện được thành tài.
Nhưng bây giờ, không hiểu sao, cô lại thỉnh thoảng tự mình đến trước bàn viết. Trải một tờ giấy tuyên trắng, dùng chặn giấy đè lại, đổ một ít nước trong vào chiếc nghiên Đoan, cầm thỏi mực Huy Châu quý giá, từ từ, từng vòng một mài. Mùi mực theo động tác của cô, từng sợi từng sợi tỏa ra, trầm tĩnh, an thần.
Hành động này, khiến cô bất giác nhớ đến một đôi tay khác – đôi tay có những vết chai mỏng ở đầu ngón, khớp xương rõ ràng, khi lần tràng hạt thì vững như đá tảng.
Nhớ lại trong thư phòng thoang thoảng mùi hương Tạng ở Lhasa, anh cũng như vậy, dạy Duẫn Duẫn cầm b.út, dắt tay đứa trẻ, từng nét một mô phỏng. Hơi thở của anh ở ngay bên tai, trầm thấp và bình yên: "Cổ tay phải vững, tâm phải tĩnh. Nét b.út giấu ở đây, như núi tuyết tích tụ sức mạnh..."
Lúc đó, cô thỉnh thoảng sẽ ngồi một bên nhìn, đôi khi hứng lên, cũng cầm b.út vẽ vài nét, luôn bị anh nhẹ nhàng sửa lại tư thế, cười cô "lực cổ tay không đủ, tâm ý nóng vội". Cô cũng không giận, chỉ cảm thấy khoảng thời gian tập trung, b.út mực và hơi thở đồng điệu đó, có một sự yên bình khác lạ.
Bây giờ, không có anh ở bên chỉ bảo, cô lại có vẻ ra dáng.
Treo cổ tay, nhấc b.út, chấm mực, gạt đi mực thừa. Đầu b.út rơi trên giấy tuyên, màu mực từ từ loang ra. Cô không còn viết những chữ "Vĩnh" hay "Phúc" qua loa như hồi nhỏ, mà bất giác, viết ra một số ký hiệu Tạng văn đơn giản, là chữ viết tắt của "Án Ma Ni Bát Mê Hồng", là những hoa văn cát tường chúc bình an mà Nam Gia Ý Hy đã dạy cô. Hoặc, viết một số chữ Hán cực kỳ đơn giản, "sơn", "thủy", "tĩnh", "an". Nét chữ của cô, không thể nói là mạnh mẽ, có phong thái riêng, nhưng lại bất ngờ trầm ổn hơn nhiều, giữa từng nét phẩy, nét mác, đã bớt đi sự bay bổng vội vàng trước đây, thêm vài phần tĩnh khí đã lắng đọng. Ngay cả chính cô nhìn, cũng có chút ngạc nhiên.
Có phải là sự thẩm thấu vô hình của những ngày tháng đó không? Sự tập trung vào một việc một vật của anh, đã vô tình ảnh hưởng đến cô? Hay là... sau khi trải qua bao nhiêu ồn ào, phản bội, giằng xé và ly biệt, trái tim cô, cuối cùng trong sự tĩnh lặng bắt buộc, đã buộc phải học được một bài học về "tĩnh"?
Ánh nắng xuyên qua cửa sổ gỗ chạm hoa, chiếu những vệt sáng li ti lên giấy tuyên, vết mực chưa khô, hơi phản quang. Cô dừng b.út, nhìn những chữ mình đã viết, rồi lại ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ một góc trời hẹp đặc trưng của Thiệu Hưng bị mái hiên cắt ra.
Trái tim, như thể cũng trong những nét vẽ và sự dừng lại của b.út mực này, tạm thời tìm được một điểm tựa tĩnh lặng để nghỉ ngơi. Dù sâu thẳm trong sự tĩnh lặng đó, vẫn là nỗi nhớ dài dằng dặc, không lời giải, và một tương lai trống rỗng, không biết đường đi. Nhưng ít nhất, trong khoảnh khắc của từng nét b.út này, cô được yên bình.
Đặt b.út xuống, cô khẽ thở ra một hơi. Xa xa, văng vẳng tiếng chèo thuyền và tiếng cười đùa của đứa trẻ nhà ai đó, là hơi ấm cuộc sống, là cuộc sống thực tại. Còn cô vừa mới trong mùi mực và ký ức, đã hoàn thành một cuộc xuyên không và đối thoại ngắn ngủi, tĩnh lặng.
