Trang Y Án - 2
Cập nhật lúc: 07/07/2026 13:03
Ta nghe vậy chỉ cười nhạt, không tiếp lời.
Bốn chữ “nếu sinh làm nam t.ử” ấy, có lẽ ngay cả hắn cũng không thấy có gì gai người.
Kiếp trước ta học y, trải qua quãng quy bồi dài đến kiệt sức, cuối cùng ngã xuống sau một đêm trực không kịp thấy bình minh.
Đến đời này, ta vẫn không bỏ được thói quen cũ.
Nha hoàn trong phủ cảm phong hàn, đầu bếp bị bỏng, mã phu đau bụng tiêu chảy, ta đều ghi triệu chứng, t.h.u.ố.c dùng và chuyển biến lại cẩn thận.
Ngày qua tháng lại, những tờ giấy mỏng ấy chất đầy thành một rương y án dày.
Chu Cảnh Hành rất thích lật xem.
Ta từng không đề phòng hắn, thỉnh thoảng còn lấy ra cùng hắn đối chiếu bàn bạc.
Hắn đọc nhiều y thư khi tu sửa sách, nên thường nhắc được một hai ca tương tự để ta tham khảo.
Một lần, ta ghi lại bệnh án của một đứa trẻ ho suyễn.
Hôm sau, hắn mang từ Hàn Lâm viện về một quyển luận chứng suyễn của y gia đời trước, đặt trước mặt ta rồi nói: “Quyển này có lẽ dùng để đối chiếu sẽ hữu ích.”
Có một khoảnh khắc, ta thật sự từng nghĩ rằng biết đâu hắn khác với những nam nhân ngoài kia.
Nhưng rốt cuộc, ta vẫn giữ im lặng.
Cho đến một ngày ta đến Thái y viện lấy t.h.u.ố.c an t.h.a.i cho trưởng tỷ, bên dưới hành lang có hai y quan đang trò chuyện.
Một người nói quyển “Tạp Chứng Tiện Lãm” của Chu tu soạn viết rất khá, đặc biệt là những ca trẻ nhỏ tiêu chảy, mạch lạc rành rẽ, đến màu phân và nguồn nước giếng cũng ghi rõ.
Người kia khen Thám hoa hàn môn quả nhiên chịu khó dụng công, chẳng trách viện phán nói hắn có lòng nhân của y gia.
Chân ta dừng lại ngay dưới hiên.
Trẻ nhỏ tiêu chảy.
Màu phân.
Nguồn nước giếng.
Đó là ca bệnh ta tự tay ghi ba tháng trước, khi chữa cho đứa con nhỏ của nhũ mẫu trong phủ.
Đứa trẻ không bị tiêu chảy vì ăn uống tầm thường, mà do mưa lớn khiến nước bẩn tràn ngược, làm ô nhiễm giếng sau viện.
Ta lệnh cho mọi người đun sôi nước mới được uống, phong giếng, vét bùn, dọn sạch nơi bẩn, nhờ vậy cả viện mới không tiếp tục ngã bệnh.
Phần y án ấy, ngoài ta ra, chỉ Chu Cảnh Hành từng xem.
Ta về phủ, lập tức mở rương y án.
Bảy trang đã biến mất.
Trong khoảnh khắc ấy, lòng ta bình lặng đến lạ.
Như một chiếc giày treo lơ lửng trên đỉnh đầu từ lâu, sau cùng cũng rơi xuống đất, không còn phải đoán bao giờ nó sẽ rơi nữa.
Ta không vội chất vấn Chu Cảnh Hành.
Muốn c.h.ặ.t đứt một sợi dây, trước hết phải biết nó quấn qua những đâu.
Ta sai Thanh Chi, nha hoàn hồi môn của mình, đi tra hành tung gần đây của hắn.
Lần đầu trở về, Thanh Chi đứng ngoài cửa rất lâu, do dự mãi mới bước vào.
Nàng cúi đầu bẩm: “Phu nhân, cô gia hằng ngày chỉ lui tới giữa Hàn Lâm viện và phủ, nô tỳ chưa tra ra điều gì khác.”
Ta nhìn sắc mặt nàng, biết nàng còn giấu lời phía sau.
“Có gì cứ nói.”
Thanh Chi c.ắ.n môi: “Nô tỳ tra được thêm một việc. Mỗi tháng vào mùng năm, cô gia đều không ngủ trong phủ. Nô tỳ đến Hàn Lâm viện hỏi, trên sổ trực ghi đêm đó người ở lại viện sửa sách.”
Ta hỏi: “Nhưng sao?”
“Nô tỳ tình cờ gặp một vị tu soạn khác cũng trực đêm mùng năm ấy. Người đó bảo đêm hôm đó chưa hề thấy cô gia ở lại.”
Nói đến cuối, giọng nàng thấp xuống như sợ chính mình đã nghĩ oan cho người.
“Nô tỳ cũng chưa dám chắc. Có lẽ cô gia đến nơi khác làm việc, không muốn phu nhân bận lòng nên mới giấu.”
Ta đặt chén trà xuống.
“Không cần thay hắn bày lý do. Tiếp tục tra. Ta muốn biết đêm mùng năm hắn đi đâu.”
Thanh Chi chạy thêm vài chuyến, nhưng vẫn không lần ra được.
Chu Cảnh Hành ra ngoài không mang tiểu tư.
Kiệu phu mỗi lần đưa đến một nơi lại bị cho lui, chẳng ai biết sau đó hắn rẽ vào đâu.
Hắn giấu chuyện này kín hơn ta tưởng.
Ta gửi thư cho trưởng tỷ.
Trong thư hồi âm, nàng viết rằng chuyện mùng năm hằng tháng không về phủ, trước khi hôn sự thành, nàng cũng từng chú ý đến.
Khi ấy người nàng phái đi kiểm tra quả thật thấy tên hắn trên sổ trực Hàn Lâm viện, nét chữ đăng ký cũng là của hắn.
Vì vậy nàng tưởng hắn thật sự ở lại viện tu thư.
Hóa ra Chu Cảnh Hành đã chuẩn bị cả sổ trực từ trước.
Cuối thư, trưởng tỷ dặn: “Ta sai Quan thúc canh ở các nơi trong thành, bên muội cũng để Thanh Chi lưu tâm. Hai bên cùng dò.”
Quan thúc là lão bộc theo trưởng tỷ làm của hồi môn, tính tình thận trọng, làm việc chắc tay.
Ông ấy canh nửa tháng, cuối cùng chờ được dấu vết ở tiệm t.h.u.ố.c Nhân Tế phía tây thành.
Chỉ là chứng cứ then chốt vẫn chưa nằm trong tay.
Tiểu nhị quán trà cạnh tiệm t.h.u.ố.c biết chuyện, nhưng Thanh Chi đến hỏi hai lần, hắn đều lắc đầu nói không biết, rõ ràng sợ rước họa đến nhà.
Sau cùng, trưởng tỷ phải ra mặt.
Nàng cho người truyền lời đến tiểu nhị ấy, nói Tô gia sẽ bảo toàn cả nhà hắn, nếu có ai gây sự, Tô gia đứng ra gánh, lại cho thêm hai mươi lượng bạc để hắn an thân.
Đến lần thứ ba, người kia mới chịu mở miệng.
Khi Thanh Chi trở về, sau lưng nàng có một tiểu nhị mặc áo vải ngắn màu xám.
Nàng bẩm: “Phu nhân, cô gia mỗi tháng mùng năm đều đến tiệm t.h.u.ố.c Nhân Tế ở phía tây thành. Chưởng quầy tiệm ấy là quả phụ họ Bạch, bên cạnh có một bé gái năm tuổi.”
Nàng hơi dừng.
“Đứa trẻ ấy mới được đón từ nơi khác đến trong mấy tháng gần đây.”
Tiểu nhị tuổi còn trẻ, mặt mày thật thà, vừa vào đã quỳ xuống trước ta.
Hắn nói mình làm ở quán trà cạnh Nhân Tế, mỗi tháng vào đêm mùng năm đều thấy Chu đại nhân ở lại qua đêm trong tiệm t.h.u.ố.c.
Hắn từng vài lần đưa nước nóng vào hậu viện.
Ta hỏi: “Ngươi nghe thấy gì?”
