Xuyên Thành Ác Nữ Ôm Bụng Bầu Đi Lưu Đầy, Ta Vét Sạch Kinh Đô - Chương 372: Dạo Thuyền Trên Tây Hồ
Cập nhật lúc: 23/04/2026 02:47
Liễu Lả Lướt dò la được cớ sự vì sao Vân Kiểu Nguyệt bị tước mất phượng ấn.
Ngay từ tinh mơ, nàng ta đã sốt sắng phái người đến dọn dẹp Trấn Bắc Vương phủ. Sân vườn được làm cỏ sạch bóng, không chừa lấy một ngọn.
Dọn dẹp xong xuôi, nàng ta lại kêu gọi thợ thuyền đến sửa sang lại mái ngói, cửa sổ. Chỗ nào hư hỏng, xập xệ đều được tu sửa tươm tất.
Quế ma ma chạm mặt đám thị vệ do Vân Chiêu Tuyết cắt cử đến trông coi, liền cất giọng oai vệ sai bảo đám người làm:
"Liễu phi nương nương có lệnh, phải mau ch.óng sửa sang lại Vương phủ cho hoàn tất, để Vương phi và Quận chúa sớm ngày dọn vào. Các ngươi làm việc cho cẩn thận, mở to mắt ra mà nhìn, đừng để sót bất cứ chỗ nào."
Thực ra, từ hôm qua Trục Phong và Truy Ảnh đã dẫn người đến dọn dẹp sơ qua khu vực tiền viện rồi. Bọn họ cố tình làm qua loa để chờ người trong cung phái thợ đến sửa chữa, thế là đỡ được một khoản chi phí kha khá.
Nhờ có người làm thay, Vân Chiêu Tuyết chẳng cần bận tâm gì nữa. Nàng thảnh thơi dẫn mọi người ra ngoài đi dâng hương rồi dạo phố.
Cảnh sắc Lâm An quả thực tuyệt mỹ, lối kiến trúc cũng vô cùng độc đáo. Tranh thủ lúc tuyết chưa rơi, cả nhà rủ nhau đi dạo một vòng. Nghe đâu chỉ độ nửa tháng nữa là tuyết bắt đầu rơi, lúc ấy trời rét căm căm, chẳng ai dám thò mặt ra đường.
Dương thị và Tiêu Huyền Vũ ngỏ ý muốn đến thăm ngôi từ đường mà người dân địa phương lập ra để thờ phụng Trấn Bắc Vương.
Sau bữa điểm tâm tại khách điếm, điểm đến đầu tiên của họ chính là ngôi từ đường ấy.
Ngôi miếu tọa lạc ngay khu vực sầm uất nhất của khu phố, người qua kẻ lại tấp nập. Ai đi ngang qua cũng ghé vào thắp nén nhang thành kính rồi mới tiếp tục công việc của mình.
Xe ngựa dừng lại trước cổng miếu. Hôm nay trời bỗng trở lạnh đột ngột. Những người khá giả đã khoác thêm những lớp áo bông dày cộm, áo choàng lông chồn ấm áp.
Dương thị bước xuống xe, nhìn dòng người tấp nập vào ra. Bên trong từ đường cũng chật kín người đến chiêm bái.
Một người mẹ dắt tay đứa con nhỏ từ trong miếu bước ra, ân cần dặn dò: "Ngôn nhi à, vị thần được thờ bên trong là Trấn Bắc Vương đấy. Ngài đã dành cả cuộc đời trấn giữ biên cương, nhờ có ngài mà chúng ta mới có được cuộc sống bình yên, no ấm. Ngài là vị anh hùng vĩ đại của Đại Chu. Con phải luôn ghi nhớ công ơn ngài, noi gương ngài, lớn lên cũng trở thành một vị anh hùng bảo vệ đất nước, biết chưa?"
Cậu bé gật đầu ngoan ngoãn: "Vâng ạ, Ngôn nhi nhớ rồi."
Dương thị đã từng nghe bách tính kể lại sự thay đổi thái độ của mọi người đối với Trấn Bắc Vương phủ, nhưng trăm nghe không bằng một thấy. Tận mắt chứng kiến sự thành kính này, bà không khỏi chấn động.
Thì ra vẫn còn rất nhiều người tưởng nhớ đến phu quân bà.
Dù ông không còn trên cõi đời này, nhưng hình bóng và công lao của ông vẫn luôn được bách tính khắc cốt ghi tâm, thờ phụng kính cẩn. Ông sẽ mãi là tấm gương sáng cổ vũ tinh thần bảo vệ non sông cho các thế hệ mai sau.
Bà cảm thấy vô cùng tự hào về phu quân của mình.
Sống mũi bà cay cay, khóe mắt ngấn lệ. Bà vội quay mặt đi, lén dùng khăn tay lau những giọt nước mắt chực trào.
Tiêu Minh Xu tiến đến, nhẹ nhàng khoác tay mẹ: "Mẫu thân, chúng ta vào trong thôi."
"Ừ, chúng ta vào nào." Từ hôm qua, Dương thị đã nôn nóng muốn đến đây, nhưng lúc về đến khách điếm và thu xếp xong hành lý thì trời đã tối mịt, đành phải nấn ná đến hôm nay.
Bà nắm c.h.ặ.t t.a.y con gái, ánh mắt chất chứa bao nỗi áy náy: "Xu nhi, mẹ xin lỗi con. Mẹ đã không thể để con và cha kịp nhận nhau. Cha con đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn không biết con mới thực sự là cốt nhục của ông ấy. Phía trên con có bốn người anh trai, con là đứa con gái duy nhất. Ngày biết tin có con gái, ông ấy vui mừng đến nỗi thao thức cả đêm. Chính tay ông ấy đã dìu con những bước đi chập chững đầu đời, đút cho con từng muỗng cơm, ẵm bồng con đi chơi, gặp ai cũng khoe con là con gái rượu của ông ấy..."
Bà đã quên bẵng mất một điều quan trọng: người con gái tận hưởng những tháng ngày hạnh phúc ấy không phải là Tiêu Minh Xu, mà là Tiêu Tú Ninh.
Không khí bỗng chốc chùng xuống, ai nấy đều cảm nhận được sự ngượng ngùng trong lời nói của Dương thị.
Vân Chiêu Tuyết khẽ hắng giọng: "Khụ..."
Người được hưởng trọn vẹn tình yêu thương của cha lại không phải là Tiêu Minh Xu. Việc Dương thị khơi lại những kỷ niệm đó lúc này, chẳng phải là xát muối vào lòng cô bé hay sao?
Dương thị lúc này mới nhận ra mình đã lỡ lời.
"Xu nhi, mẹ xin lỗi, mẹ ngàn vạn lần xin lỗi con..."
Tiêu Minh Xu cố gượng cười, lắc đầu trấn an: "Mẫu thân đừng nói vậy, con không trách mẹ đâu. Dù mẹ không biết thân phận thật của con, nhưng mẹ vẫn luôn đối xử với con rất tốt. Trong thâm tâm con, mẹ luôn là người mẹ tuyệt vời nhất. Còn đại bá, ngài ấy là bậc trưởng bối mà con kính trọng nhất, ngài là anh hùng của Đại Chu chúng ta."
Tiêu Huyền Vũ chen ngang: "Tứ tỷ, sao tỷ vẫn còn gọi là đại bá? Tỷ nên gọi là phụ thân mới đúng chứ."
"Phụ thân đâu đã biết sự thật về ta. Bây giờ chúng ta hãy vào thắp nhang cho phụ thân, nói cho ngài ấy biết ta mới chính là con gái ruột của ngài. Đợi khi nào ngài ấy thấu tỏ, ta sẽ đổi danh xưng, gọi ngài ấy là phụ thân."
"Được, được, chúng ta vào trong thưa chuyện với ông ấy ngay." Dương thị dắt tay hai đứa con, một trái một phải, cùng nhau bước vào từ đường. Những người còn lại lặng lẽ theo sau.
Bên trong từ đường.
Nghe nói ngôi miếu này do chính người dân tự tay đóng góp xây dựng và quản lý, hoàn toàn phi lợi nhuận.
Nhang đèn đều do bách tính tự nguyện quyên góp. Những người khá giả thường mua dư dả một chút, để sẵn ở miếu cho những người không có điều kiện hoặc lỡ quên mang theo có thể dùng.
Họ đã ghé mua hơn chục bó nhang dọc đường, phần còn lại cũng để ngay ngắn trong góc, dành cho những ai đến viếng mà chưa kịp chuẩn bị.
Tiêu Huyền Vũ đếm nhang, châm lửa, cẩn thận chia cho mỗi người ba nén.
Vân Chiêu Tuyết kính cẩn vái lạy rồi cắm nhang vào lư hương. Nàng quay lại đón lấy Đại Bảo từ tay Trục Phong, hất nhẹ cằm hướng về bức tượng oai nghiêm phía trên: "Đại Bảo, Nhị Bảo, hai con có biết người ngồi trên kia là ai không?"
Hai đứa trẻ nhìn chằm chằm bức tượng, bập bẹ gọi: "Tổ phụ, tổ phụ..."
Đại Bảo líu lo: "Mẫu thân, tổ phụ là đại anh hùng..."
"Đúng rồi, chính là tổ phụ của hai con đấy..."
Nàng không hề ép buộc hay định hướng tương lai cho con cái, kiểu như: "Tổ phụ các con là Nguyên soái, Đại tướng quân lẫy lừng, phụ thân các con cũng vậy. Lớn lên các con cũng phải nối nghiệp gia đình, xông pha trận mạc, da ngựa bọc thây".
Nàng luôn tâm niệm, sau này khi trưởng thành, dù các con có chọn con đường nào, làm nghề gì, nàng cũng sẽ hết lòng ủng hộ, không bao giờ ép buộc hay cấm đoán.
Rời khỏi chùa, cả nhà thẳng tiến đến Tây Hồ. Mùa này, Tây Hồ vẫn tấp nập thuyền bè dạo chơi.
Giới văn nhân thi sĩ rất chuộng thú vui du ngoạn trên hồ, ngâm thơ vịnh phú.
Chỉ riêng những áng thơ văn ca ngợi vẻ đẹp của Tây Hồ đã đếm không xuể, có đến hàng chục, hàng trăm bài.
Khắp mặt hồ điểm xuyết những chiếc du thuyền, nhìn sơ qua cũng có đến mười mấy chiếc.
Phía xa xa, màn sương mù giăng giăng che khuất tầm nhìn, chỉ thấp thoáng bóng dáng vài chiếc thuyền lượn lờ.
Trên thuyền, nam thanh nữ tú hội tụ đông đủ.
Nhiều tiểu thư khuê các cũng sở hữu tài năng thi phú chẳng kém cạnh đấng mày râu. Những vần thơ của họ được dân gian truyền tụng, trở thành những áng thơ bất hủ lưu truyền muôn đời.
Đương kim Hoàng thượng rất đam mê thi ca, nên các quan đại thần cũng đua nhau học hỏi, thường xuyên tổ chức những buổi ngâm thơ, bình thơ để kết giao bằng hữu. Giới văn nhân thi sĩ nhờ đó cũng được dịp nở mày nở mặt.
Có người nhờ tài làm thơ xuất chúng tại các buổi ngâm thơ mà được đặc cách phong làm Hàn lâm bát phẩm.
Tiên đế cũng là một người sùng bái thi họa. Đã từng có thời, thi họa được coi là tiêu chí hàng đầu để tuyển chọn nhân tài cho đất nước.
Sự ưu ái này đã đưa văn hóa nghệ thuật lên thời kỳ hoàng kim, tiêu tốn biết bao tài lực, vật lực của quốc gia. Tuy nhiên, đổi lại là sự bỏ bê, coi nhẹ lĩnh vực quân sự.
Các binh sĩ ngoài tiền tuyến dầm sương dãi nắng, vào sinh ra t.ử, lại bị bớt xén quân lương, ăn không đủ no. Biết bao trận chiến thất bại cay đắng chỉ vì thiếu hụt lương thảo.
Đói khát, thiếu thốn, binh lính đào ngũ, thậm chí đầu hàng địch là chuyện cơm bữa.
Số quân lương bèo bọt một tháng của họ, nhiều khi còn chẳng bằng giá trị của một bức tranh hay bức thư pháp đắt tiền.
Chính vì sự đầu tư lệch lạc đó mà sức mạnh quân sự của Đại Chu suy yếu trầm trọng, liên tục bị các bộ tộc phương Bắc chèn ép, ức h.i.ế.p.
Tư tưởng "trọng văn khinh võ" đã bám rễ sâu đến mức trở thành căn bệnh trầm kha. Quan văn khinh rẻ võ tướng, chèn ép, nghi kỵ, không trao quyền bính.
Biên cương thất thủ, đất nước lâm nguy, bách tính bị tàn sát, thì những giá trị văn hóa hoa mỹ kia cũng tan thành mây khói.
Nền văn hóa rực rỡ dẫu không được lưu truyền cho hậu thế, rốt cuộc cũng chỉ như hoa phù dung sớm nở tối tàn.
Đã cất công đến đây, Vân Chiêu Tuyết quyết định thuê một chiếc thuyền để cả nhà cùng đi dạo hồ.
Nàng sai người đi liên hệ với chủ thuyền.
Trục Phong chạy đi hỏi thăm một vòng rồi quay về báo cáo: "Bẩm Quận chúa, thuyền lớn đã được thuê hết, hiện chỉ còn lại thuyền cỡ trung thôi ạ."
"Thuyền cỡ trung có đủ sức chứa hết mọi người không?"
"Dạ, đủ ạ."
"Được rồi, vậy thuê thuyền cỡ trung đi."
Thời tiết bên ngoài lạnh lẽo, ở lâu sợ sức khỏe của bọn trẻ không chịu nổi.
Nhiều chiếc thuyền đang thong dong lướt trên mặt hồ, du khách ngồi nhâm nhi rượu, ngâm thơ trên boong thuyền.
Nàng vốn không mặn mà gì với thơ ca, nhưng lại rất thích ngắm nhìn những cô nương xinh đẹp và các chàng thư sinh nho nhã.
Trên những chiếc du thuyền lướt nhẹ qua, các vị công t.ử khoác trên mình những chiếc áo choàng lông dày cộm, đầu đội mũ ấm áp, đứng trên mũi thuyền ngâm thơ, trò chuyện rôm rả.
Bên trong khoang thuyền, các tiểu thư khuê các e ấp trong những chiếc áo choàng gấm vóc thêu hoa tinh xảo. Mái tóc họ điểm xuyết những món trang sức ngọc ngà lấp lánh. Họ quây quần bên lò sưởi ấm áp, thì thầm to nhỏ, thỉnh thoảng lại tò mò vén rèm nhìn ra ngoài cửa sổ.
Dương thị, Tạ Uyển Vân và Tống Minh Yên vốn sợ lạnh nên chọn ngồi trong khoang thuyền ấm áp để thưởng ngoạn cảnh hồ.
Dương thị không yên tâm để Đại Bảo và Nhị Bảo ra ngoài hứng gió, nên Vân Chiêu Tuyết đành để hai đứa nhỏ lại trong khoang thuyền cho họ trông nom.
Vân Chiêu Tuyết vốn không sợ lạnh, nàng thong thả tựa lưng vào lan can, đưa mắt ngắm nhìn cảnh sắc mùa đông trên Tây Hồ. Màn sương mù dày đặc giăng mắc trên mặt hồ, nhìn từ xa cứ ngỡ như tuyết đang rơi. Những chiếc du thuyền lấp ló trong sương trông như những vệt mực nhòe trên bức tranh thủy mặc. Mặt nước lăn tăn gợn sóng, phản chiếu ánh sáng mờ ảo của màn sương.
Nếu có thêm một trận tuyết rơi lất phất nữa thì cảnh sắc sẽ càng thêm thơ mộng, tuyệt trần.
Người trẻ tuổi không mấy ai thích ngồi lì trong khoang thuyền ngột ngạt, họ đều kéo nhau ra boong thuyền để tận hưởng không khí se lạnh của mùa đông.
Ngay trên boong thuyền cũng được bố trí một chiếc bếp lò nhỏ, than hồng rực rỡ để đun nước pha trà và giữ ấm các món ăn vặt.
Táo Đỏ co ro trong chiếc áo choàng màu đỏ hạnh, chăm chú nhìn ấm nước đồng sôi sùng sục, bọt khí nổi lên như mắt cua.
Nàng dùng chiếc kẹp tre khéo léo lật qua lật lại những miếng mứt quýt, long nhãn sấy khô trên bếp than. Mùi hương ngòn ngọt của trái cây hòa quyện cùng hương trà thơm nồng lan tỏa trong không gian mờ sương, lạnh giá.
Trên chiếc bàn nhỏ, những chén trà sứ men ngọc bích đã được rót đầy thứ nước trà Long Tỉnh xanh ngắt, thơm ngát hương xuân.
Lục Chi dùng khay bưng mấy chén trà nóng hổi, cẩn thận đặt trước mặt các chủ t.ử.
Vân Chiêu Tuyết, Tiêu Huyền Vũ và Tiêu Minh Xu mỗi người đón lấy một chén. Trên khay vẫn còn thừa lại mấy chén.
Vân Chiêu Tuyết nhấp một ngụm trà nhỏ, gật gù khen ngợi: "Hương vị trà rất tuyệt, mọi người cũng thưởng thức đi, uống chút nước nóng cho ấm bụng."
Câu nói này rõ ràng là dành cho đám người hầu.
"Trục Phong, Truy Ảnh, hai người cũng uống đi. Cứ tự nhiên nhé, trà hôm nay chuẩn bị nhiều lắm, tha hồ mà thưởng thức."
Có món ngon thức lạ gì, nàng đều hào phóng chia sẻ với họ.
Họ cũng chẳng còn e dè, cung kính đáp: "Đa tạ Quận chúa."
Nếu họ mà tỏ ra khách sáo, e rằng Quận chúa lại phật lòng.
Từ những chiếc thuyền xung quanh, thỉnh thoảng lại vọng lại những câu thơ vịnh cảnh do các văn nhân thi sĩ sáng tác.
Trong giọng điệu ngâm nga trầm bổng ấy, ẩn chứa cả nỗi tiếc thương, sầu muộn trước cảnh nước mất nhà tan.
Vế trên: Khô liễu rũ luân, khó câu Trung Nguyên nửa phần nguyệt (Liễu héo rủ cành, khó câu được nửa vầng trăng Trung Nguyên).
Vế dưới: Bại hà kình cái, không che nam độ một hồ thu (Sen tàn che dù, chẳng giấu nổi một hồ thu xuôi Nam).
Vế trên: Tàn hà nghe vũ, một đình sương sắc áp hàn y (Sen tàn nghe mưa, một đình sương lạnh đè áo ấm).
Vế dưới: Cô mái chèo áo choàng, nửa bên sơn ảnh khóa mộ vân (Mái chèo cô độc áo tơi, nửa bóng núi giam mây chiều).
...
Vân Chiêu Tuyết tuy không am hiểu tường tận về niêm luật thơ phú, cũng chẳng rõ họ gieo vần có chuẩn chỉnh hay không, nhưng nghe qua âm điệu trầm bổng, hiệp vần, lại có thể tức cảnh sinh tình ứng tác nhanh nhạy như vậy, quả thực là những bậc tài t.ử.
Thơ hay thật.
Khi chiếc du thuyền từ từ rẽ sóng lướt ra giữa hồ, ánh mắt Vân Chiêu Tuyết tình cờ bắt gặp một gương mặt quen thuộc.
