Biện Lương Hoành Thánh Ký - 1
Cập nhật lúc: 27/07/2026 18:00
Tháng ba, người của Ngự sử đài xông vào phủ.
Trong phủ loạn thành một nồi cháo, hạ nhân kẻ trốn người chạy.
Ta ôm chổi, co mình sau hòn giả sơn trong hoa viên, mãi đến khi Vương đại phu trong phủ tìm thấy.
Ông là một lão nhân hiền từ.
Ngày thường, mỗi khi ta thay phu nhân đi lấy t.h.u.ố.c, ông luôn dúi cho ta một viên kẹo.
“Nha đầu, đi theo ta.”
Ông kéo ta về hậu viện, bước chân vội vã.
“Kiếp nạn này của Chân gia e rằng không qua nổi.”
“Phu nhân đã dặn, hôm nay mọi người đều giải tán.”
Ông nhét vào tay ta một gói bạc vụn nhỏ.
“Cầm lấy, sau này tự lo cho mình.”
“Chỉ là…”
Ông dừng lại, chỉ vào chiếc nôi trong phòng.
“Nhị tiểu thư mới tám tháng tuổi.”
“Một lão già như ta mang theo con bé sẽ quá gây chú ý.”
“Nếu ngươi chịu, hãy đưa con bé đi, đừng để nó rơi vào tay người khác…”
Tiểu nha đầu trong nôi có gương mặt phấn nộn, đang mút ngón tay.
Ta bước đến ngồi xổm, khẽ chạm vào má con bé.
Nó cười khanh khách.
Ta bế nó lên, theo Vương đại phu rời khỏi cửa sau.
Từ đó, thành Biện Lương có thêm một tiểu nương t.ử bán hoành thánh.
1
Ta mang theo số bạc vụn Vương đại phu cho, dựng một quầy nhỏ ở cửa Tây thị.
Quầy không lớn, chỉ có một tấm thớt cũ, một nồi sắt, hai chiếc đèn l.ồ.ng giấy.
Trên đèn l.ồ.ng viết hai chữ “hoành thánh”.
Chữ do lão Chu ở quán trà bên cạnh viết giúp, xiêu xiêu vẹo vẹo nhưng lại mang một hơi ấm rất thật.
Bên cạnh nồi sắt đặt hai vò sành.
Một vò đựng nước hầm xương, một vò đựng nước sạch.
Nước dùng ngày nào cũng được nấu từ lúc trời chưa sáng.
Ta dùng xương ống lợn, thêm vài lát gừng, mấy hạt hoa tiêu rồi hầm lửa nhỏ suốt một canh giờ.
Nước canh trắng như sữa, hương thơm có thể bay xa nửa con phố.
Trên thớt xếp một dãy bát nhỏ, trong bát là nhân đã trộn.
Thịt đùi lợn băm thật nhuyễn, thêm cải muối băm nhỏ, hành băm, nước gừng, rồi đập một quả trứng vào.
Phải khuấy theo một chiều đến khi dẻo quánh, cắm đũa giữa bát mà không đổ mới coi là đạt.
Vỏ hoành thánh do ta tự cán.
Mỏng như cánh ve, soi qua ánh sáng có thể nhìn thấy đường chỉ tay.
Quá dày không được, quá mỏng cũng không được, phải dai mà không rách.
Tháng đầu tiên là khó khăn nhất.
Ta không mua nổi thịt, chỉ mua xương lợn nấu canh, bán hoành thánh chay.
Nhân chay gồm đậu phụ, mộc nhĩ và một chút hẹ.
Đậu phụ phải ép hết nước, mộc nhĩ phải băm thật nhỏ, như vậy gói ra mới miễn cưỡng có chút hương vị.
Mỗi bát mười chiếc hoành thánh, bán bảy văn tiền, nhưng người mua không nhiều.
Ta ôm Nhị tiểu thư đang bập bẹ học nói, ngồi trên chiếc ghế nhỏ phía sau quầy mà rao bán.
Ta đặt cho con bé một nhũ danh, gọi là Noãn Nhi.
Ban ngày, ta nhào bột, gói hoành thánh, tay chân không ngơi nghỉ.
Noãn Nhi ngồi trong chậu gỗ ở góc quầy, cổ tay đeo một chiếc chuông nhỏ.
Nó vừa khóc, ta liền dừng việc, dỗ vài câu rồi đút chút nước cơm.
Ban đêm, ta bọc con bé trong lòng, ngủ trong căn nhà gỗ rách ở ngõ sau quầy.
Đêm Biện Lương có tiên sinh kể chuyện, có nương t.ử hát khúc, cũng có tiếng mắng của người say, tiếng bước chân của kẻ trộm.
Ta nghe tất cả, ôm Noãn Nhi thật c.h.ặ.t.
Có người hỏi vì sao ta mang theo một đứa trẻ bán hoành thánh.
Ta chỉ nói đó là muội muội của mình.
Đến tháng thứ hai, ta dành dụm được tám mươi văn tiền.
Ta c.ắ.n răng mua hai cân thịt đùi lợn.
Đêm ấy, bát hoành thánh thịt đầu tiên vừa ra nồi, ta nếm một chiếc, nước mắt liền rơi.
Bát hoành thánh ấy bán cho một người bán hàng rong đang đi đường đêm.
Hắn c.ắ.n một miếng, vui mừng nói:
“Tiểu nương t.ử, hoành thánh của cô làm thật chính tông.”
Sau đó, hắn ăn liền ba bát.
Từ đó, việc buôn bán dần tốt lên.
Mỗi ngày khi trời còn chưa sáng, ta đã phải thức dậy.
Đầu tiên ra giếng gánh nước, sau đó nhóm lửa nấu canh, băm nhân, gói hoành thánh.
Gói hoành thánh là việc tinh tế.
Tay trái đỡ vỏ, tay phải gắp nhân.
Nhân phải vừa đủ, nhiều quá sẽ làm rách vỏ khi nấu, ít quá ăn lại nhạt.
Sau đó gập đôi, bóp c.h.ặ.t, rồi gập thêm một lần.
Một chiếc hoành thánh nhỏ xinh liền hoàn thành, được xếp ngay ngắn trên tấm gỗ rắc bột.
Mùa đông là khó chịu nhất.
Mùa đông ở Biện Kinh rét cắt xương.
Nước giếng lạnh như d.a.o, vừa đưa tay vào đã mất cảm giác.
Khi ấy Noãn Nhi vừa học đi, được bọc như một cục bông, ngồi cạnh bếp sưởi lửa.
Thỉnh thoảng con bé ngẩng đầu gọi một tiếng “A tỷ”.
Ta đáp lại, trong lòng lập tức ấm lên.
Mùa hè cũng chẳng dễ chịu.
Thịt không để được lâu, mỗi ngày ta chỉ dám chuẩn bị ít.
Bán hết liền dọn quầy, không dám gói nhiều.
Có lúc trời quá nóng, nhân thịt để hai canh giờ đã có mùi, ta đành c.ắ.n răng đổ hết phần còn lại.
Thà kiếm ít hơn cũng không thể làm hỏng thanh danh của quầy.
Con phố này có không ít hàng ăn.
Bánh bao, mì, bánh nướng, canh cay Hồ, món nào cũng có khách riêng.
Hoành thánh của ta có thể đứng vững chỉ nhờ một chữ “tươi”.
Đầu xuân năm thứ ba, ta tính lại, đã dành dụm đủ tám lượng bạc.
Ta dùng vải bọc bạc, giấu trong túi sát người, đặt cùng chiếc khóa bạc nhỏ phu nhân ban vào Tết Nguyên tiêu năm ấy.
Tám lượng bạc ở Biện Kinh có thể làm được gì?
Đủ thuê một gian phòng nhỏ trong ngõ, đủ mua một chiếc bàn t.ử tế, đủ sắm thêm vài bộ bát đũa.
Ta tính toán, chỉ cần dành dụm thêm nửa năm là có thể thuê một cửa hàng nhỏ gần cửa Tây thị.
Không cần lớn, chỉ cần đặt được ba bốn bàn.
Sau đó treo một tấm biển, viết “Hoành thánh Ôn Ký”, đường đường chính chính làm một tiểu thương.
2
Lão Chu ở quán trà bên cạnh là một lão nhân lưng còng hơn năm mươi tuổi.
Thuở trẻ ông từng chạy thuyền, chân bị bệnh, sau đó dựng một quán trà ở cửa Tây thị Biện Kinh, bán trà bát lớn, một văn một bát, uống bao nhiêu cũng được.
Ông thấy ta một mình nuôi trẻ không dễ, thường giúp trông Noãn Nhi.
Khi Noãn Nhi khóc, ông dùng đũa chấm nước mật đưa vào miệng con bé.
Noãn Nhi ch.óp chép vài cái liền nín.
“Con bé này có phúc.”
Lão Chu luôn nói như vậy.
Noãn Nhi lớn rất nhanh.
Từ một cục bột nhỏ chỉ biết ê a, chẳng bao lâu đã biết dùng giọng non nớt gọi ta là “A tỷ”.
Con bé thích ngồi xổm cạnh nồi, nhìn ta múc hoành thánh vào bát.
Hơi nóng phả lên mặt, khiến hai má nó đỏ hồng.
“A tỷ, hoành thánh thơm quá.”
Nó kéo góc áo ta.
Ta liền múc cho nó một bát, nhặt hết hành, chỉ để lại phần nhân thịt.
Nó ăn đến đầy miệng dầu.
Quầy hoành thánh mở tròn hai năm, ta trở thành tiểu chủ quầy mà ai trên phố cũng gọi một tiếng “Ôn nương t.ử”.
Nói là Ôn nương t.ử, thật ra ta còn chẳng có tên chính thức.
Khi cha mẹ còn sống, họ chỉ gọi ta là nha đầu.
Nha bà gọi ta là Ôn nha đầu.
Vào Chân phủ, mọi người cũng gọi theo như vậy.
Noãn Nhi nay hơn hai tuổi, đã nói được rất nhiều, cả ngày líu ríu như chim sẻ nhỏ.
Con bé giúp ta đưa hành, đưa gừng.
Có lúc còn học ta gói hoành thánh.
Hai tay nhỏ dính đầy nhân, thứ gói ra chẳng giống hoành thánh mà giống cục bột.
Vậy mà nó vẫn đắc ý giơ lên cho ta xem.
“A tỷ, ta gói đấy!”
Ta cười xoa đầu, đem chiếc hoành thánh nó gói nấu riêng thành một bát.
Nó ăn vô cùng ngon lành.
Ta muốn làm cho Noãn Nhi một bộ y phục mới.
Quần áo con bé mặc vẫn là đồ cũ ta mang từ Chân gia ra rồi sửa lại.
Giặt nhiều đến bạc màu, đầu gối và khuỷu tay đều vá.
Ta đến một chuyến tới cửa hàng vải, mua hai thước vải bông mịn màu chàm.
Vải mềm, không làm đau da.
Ban đêm khi Noãn Nhi ngủ, ta mượn ánh trăng khâu từng mũi.
Khâu suốt hai đêm mới thành một chiếc áo nhỏ.
