Chẳng Cầu Mệnh Phượng - 4
Cập nhật lúc: 20/07/2026 03:01
“Tạ nha đầu, hôn sự này đã do tiên hoàng định ra, vậy đương nhiên là hết sức tốt. Chỉ là khi đó con vẫn còn nhỏ tuổi, Tuyên vương lại quanh năm trấn giữ biên quan, con và hắn chưa từng gặp mặt, hôn sự này…”
“Lệnh của phụ mẫu, lời của mai mối, lại thêm tiên hoàng đích thân tứ hôn, thần nữ chẳng dám trái kháng.”
Ta cúi người, điềm đạm thưa lại.
“Vả lại, Tuyên vương điện hạ trấn giữ non sông, chiến công rạng rỡ. Có thể kết duyên cùng một bậc anh hùng như người, ấy là phúc phần của thần nữ.”
Những lời này của ta đều là lời thật từ đáy lòng; hoàng hậu hé miệng, rốt cuộc chẳng tìm được lời nào để nói tiếp, thái t.ử đứng bên cạnh thì thần sắc đổi hết xanh lại trắng, khó coi đến cực điểm; buổi yến thưởng hoa rốt cuộc khép lại trong bầu không khí gượng gạo; ta dẫn nha hoàn rời khỏi hoàng cung, chỉ đến lúc đã ngồi vào xe ngựa của Tạ phủ ta mới quả thật thả lỏng được đôi phần.
Màn xe vừa buông, một bóng đen đã nhẹ tựa chiếc lá, đáp xuống bên cạnh càng xe.
“Tiểu thư, vương gia gửi thư tới.”
Lòng ta khe khẽ xao động, ta lập tức nhận lấy, thận trọng giở thư; những hàng chữ quen thuộc hiện ra trên giấy, nét nào nét nấy cứng cỏi như được khắc bằng đao, hệt như tính nết quả quyết không chút dây dưa của người kia; phong thư chẳng dài, vỏn vẹn đôi hàng.
“Chuyện nơi biên ải đã xử lý xong, tháng tới ta sẽ hồi kinh. Ta nghe hoàng hậu mở yến thưởng hoa để tuyển phi cho thái t.ử. Nàng có gặp chuyện khó xử chăng? Hễ có biến, lập tức viết thư cho ta.”
Ta xem xong thư, ý cười âm thầm nở nơi đuôi môi; người này dẫu cách xa nghìn dặm, vẫn nắm rõ tin trong kinh đến vậy; suy nghĩ trong chốc lát, ta mở ngăn kín, lấy giấy b.út, trải tờ giấy mỏng trước mặt rồi cầm b.út viết xuống một hàng chữ.
“E rằng lần này, chàng phải vì ta mà giành lấy một phen.”
Đặt b.út xong, ta hong khô nét mực rồi gấp thư, giao cho ám vệ đưa đi; bánh xe lại lăn đều trên đường về phủ; tựa lưng nơi đệm gấm, nhìn cảnh phố xá lướt qua bên ngoài cửa sổ, tâm trí ta bất giác trở lại những năm tháng xa xưa; Hoàng hậu ban nãy cho rằng ta và Tuyên vương chưa từng gặp mặt; nhưng lời ấy không đúng; thuở tiên hoàng vẫn còn, tổ phụ thường dẫn ta vào cung.
Khi ấy, dẫu ta hãy còn thơ bé, nhưng trí nhớ đã đủ rõ để lưu lại chuyện xưa; trong cung quy củ tầng tầng, mà ta vốn hiếu động, chẳng thể ngoan ngoãn ngồi lâu, nên vẫn thường trốn người hầu, chạy tới tiểu hoa viên phía sau Ngự Thư Phòng chơi đùa; cũng chính trong khu vườn nhỏ ấy, ta đã gặp Lục Văn Hạc.
Lục Văn Hạc cùng tuổi với ta, khi còn bé đã có môi đỏ răng trắng, một đôi mắt vừa đen vừa sáng, chỉ nhìn một lần cũng khó quên; ngày đầu chạm mặt, ta thấy hắn đang nằm bò trên bàn đá, đôi mày thanh tú cau thành một nét, vẻ mặt buồn rầu, đôi mắt dán c.h.ặ.t vào quyển sách trước mặt.
“Ngươi đang ngồi đây làm chuyện gì thế?”
“Trong giờ học ta lỡ đốt râu thái phó, phụ hoàng liền phạt ta ở đây học thuộc sách, song đọc mãi vẫn chẳng nhớ.”
“Có gì mà khó, để ta chỉ cho ngươi!”
Từ năm ba tuổi ta đã được dạy vỡ lòng, những loại sách khai trí đơn giản như vậy vốn đã nhớ kỹ trong lòng; ta cúi xuống nhặt một cành cây, vẽ xuống đất hình một con dế, rồi viết cạnh con dế ấy một chữ.
“Ngươi thử nhìn đi, nửa trái giống đầu dế, còn nửa phải có phải tựa chiếc đuôi đang bốc khói hay không?”
Lục Văn Hạc cúi nhìn chữ kia, rồi ngước lên nhìn ta, rốt cuộc không nhịn được mà bật cười.
“Nghe ngươi nói thế, nhìn kỹ lại đúng là có phần giống thật.”
“Đúng không?” Ta nghe thế liền vui vẻ ra mặt.
“Còn chữ nghỉ này, chẳng phải giống một người đi mỏi chân rồi tựa vào thân cây hay sao?”
“Chữ nhà là hình con lợn ở dưới mái hiên; có mái che, có vật nuôi, như thế mới thành một mái nhà.”
…
Từ ngày ấy trở đi, mỗi lần ta vào cung, hắn đều cố ý tìm ta; ta dạy hắn học thuộc những thiên vỡ lòng, còn hắn thì cùng ta đoán câu đố chữ, đối câu đối, nhờ vậy, quãng ngày thơ bé trong cung cũng bớt đi bao phần tẻ nhạt.
“Vẽ ra thì tròn, viết xuống lại vuông; đông ngày ngắn, hạ ngày dài.”
“Trên đầu là chữ nghìn, giữa thân mang chữ mộc, phía dưới có mặt trời soi sáng.”
“Da đá vốn cứng, vầng trăng thuở xưa lại sáng trong.”
…
Tiên hoàng thương yêu Lục Văn Hạc, mà bởi thương yêu nên việc dạy dỗ hắn lại càng nghiêm; những cách thức mà ta nghĩ ra khiến những trang sách khô khan với hắn dễ nhớ hơn nhiều; những tháng ngày ấy âm thầm trôi đi tựa gió qua hiên, chẳng mấy chốc thánh chỉ tứ hôn vừa được viết xong thì tiên hoàng đã lâm bệnh.
Khi ấy, Lục Văn Hạc thường giấu mình nơi góc vườn, âm thầm rơi lệ, ta bèn đem kẹo hoa quế tới ngồi cạnh an ủi; sau này tiên hoàng băng hà, cả cung thành rơi vào cảnh rối ren; tổ phụ và phụ thân đều phải vào cung thủ tang, ta bị giữ ngoài cung môn, cũng chẳng thể gặp lại Lục Văn Hạc, chỉ có thể gửi tâm ý qua từng phong thư; song suốt một quãng dài, ta chẳng nhận được hồi âm nào.
Về sau ta mới hay, những lá thư mình gửi đi đều bị tổ phụ giữ lại từ trước; sau khi tiên hoàng băng hà, thánh thượng phái tâm phúc âm thầm giám sát các thế gia, vào thời điểm ấy, nếu ta tiếp tục viết thư cho Lục Văn Hạc thì lá thư ấy chẳng phải hỏi han, mà là mang họa tới cho hắn; tang kỳ tiên hoàng vừa mãn, Lục Văn Hạc liền bị đưa đến biên quan.
