Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 141:------
Cập nhật lúc: 31/12/2025 09:00
Phòng ngủ bên phải giờ đã trở thành phòng tân hôn của hai người, nên các loại chum vại, bình lọ đều bị chuyển hết xuống hầm. Cũng may hồi trước Hứa Phượng Đài đào hầm đủ rộng, lại lát gạch đỏ và tráng xi măng phẳng phiu, chứ không thì chẳng biết nhét đâu cho hết đống đồ lỉnh kỉnh ấy.
Trước đây khi chỉ có một mình, cái gùi của Hứa Minh Nguyệt thường rỗng tuếch, bên trên chỉ để vài món đồ nhẹ hều làm màu. Nhưng từ khi ở cùng Mạnh Phúc Sinh, cô thay đổi thói quen, trong gùi lúc nào cũng chất đầy đồ thật, nặng trịch.
Hứa Minh Nguyệt muốn đeo gùi nhưng Mạnh Phúc Sinh không cho. Cuối cùng, anh vẫn bắt cô tháo gùi xuống: “Để anh đeo một lúc, mệt thì đưa em đeo.”
Ngô nhị tỷ nhìn Hứa Minh Nguyệt, chẳng hiểu sao lại đưa tay đón lấy cái gùi cô đang định đeo lên vai, khoác luôn lên lưng mình: “Để tôi đeo cho.”
Đeo thì đeo, cô ấy còn ném cho Mạnh Phúc Sinh một ánh nhìn khinh bỉ từ đầu đến chân, trong đôi mắt to tròn hiện rõ ba chữ: "Đàn ông vô dụng!"
Cứ như đang nói: Xì, đồ ẻo lả!
Trong khoảnh khắc ấy, một cảm giác quen thuộc ùa về trong ký ức Hứa Minh Nguyệt: Từ nhỏ bà nội cô cũng nhìn ông nội bằng ánh mắt y hệt như thế!
Hứa Minh Nguyệt so sánh hình thể của Mạnh Phúc Sinh và ông nội trong đầu, hóa ra cả hai đều thuộc tạng người cao gầy!
Nhìn lại hình thể khỏe khoắn của bà nội thời thiếu nữ, cô mới vỡ lẽ: Hóa ra bà nội không thích đàn ông dáng người mảnh khảnh như ông nội!
Có lẽ do thời niên thiếu chịu khổ quá nhiều nên sức khỏe ông nội cô không được tốt. Dù cả đời ông cần mẫn làm việc như một con trâu già trầm lặng, nhưng vẫn không được lòng bà nội. Bà mắng ông suốt ngày, mắng ông vô dụng, mắng mẹ chồng chân bó không làm được việc cũng vô dụng, mắng cả chú em, cô em chồng... Dường như bà chẳng hài lòng điểm gì ở ông nội.
Thực tế, bà nội đúng là người tháo vát. Một mình bà quản lý hàng trăm cái đó lươn, đó tôm, dẫn dắt bá cả đi bắt cá bắt tôm bất kể mưa gió. Trong ký ức Hứa Minh Nguyệt, từ nhỏ đến lớn nhà cô chưa bao giờ thiếu cá tôm. Hồi bé, chum nước nhà người ta dùng để chứa nước uống, còn chum nước nhà cô lúc nào cũng nhung nhúc lươn, chạch, ba ba. Người đến nhà mua cá tôm, mua ba ba, mua đó lươn đó tôm nườm nượp không ngớt.
Ngay cả khi về già, không còn sức làm nữa, hàng ngàn chiếc đó lươn đó tôm gắn bó với bà nửa đời người vẫn bán được khối tiền. Bà không chỉ khỏe mạnh mà còn sống rất thọ.
Nếu được chọn, Hứa Minh Nguyệt đương nhiên muốn trở thành người phụ nữ như bà nội: không vừa ý là mắng ngay tại trận, không bao giờ để bản thân chịu thiệt thòi, cá tính mạnh mẽ, một tay quán xuyến cả gia đình.
Nhưng làm bạn đời của bà, nhất là một người bạn đời không khiến bà hài lòng, thì chẳng phải chuyện vui vẻ gì.
Hứa Minh Nguyệt nhìn "bà nội" phiên bản thiếu nữ đang sải bước đi trước đeo gùi hộ mình, thầm nghĩ có lẽ cuộc hôn nhân của ông bà kiếp trước đúng là một sai lầm. Kiếp này ông nội đã cưới chị dâu Hồng Liên, bà nội cũng còn đủ người thân, chắc hẳn bà sẽ tìm được một người chồng vừa ý mình hơn.
Hứa Minh Nguyệt rảo bước đuổi theo Ngô nhị tỷ, suýt chút nữa buột miệng gọi "bà nội", may mà phanh lại kịp: “...Chị hai, chị cũng ngoài hai mươi rồi nhỉ? Đính hôn chưa?”
Ngô nhị tỷ quay lại liếc nhìn Hứa Minh Nguyệt, khóe môi thoáng nét cười: “Sao? Cô định làm mai cho tôi à?”
Có lẽ vì người thân đều còn sống, trừ ba năm thiên tai ra thì cô ấy chưa phải chịu quá nhiều trắc trở, nên tính tình lúc này không nóng nảy như trong ký ức của Hứa Minh Nguyệt.
“Không phải.” Hứa Minh Nguyệt lắc đầu, khen ngợi: “Em chỉ tò mò thôi, chị xinh đẹp thế này, dáng cao ráo, lại tháo vát, không biết làng trên xóm dưới ai mới xứng với chị.”
Cô tò mò thật lòng.
Mặt Ngô nhị tỷ thoáng ửng hồng: “Tôi đâu có tốt như cô nói.” Cô ấy thậm chí còn tỏ vẻ không hài lòng: “Cô không thấy tôi cao quá à?”
Ở cái thời đại mà chiều cao trung bình chỉ 1m60-1m70, Ngô nhị tỷ cao ít nhất 1m68. Tại sao Hứa Minh Nguyệt lại rõ chiều cao của bà nội thế? Bởi vì bà nội cô cao 1m68, mẹ cô cũng 1m68, bố cô cao 1m84, và kiếp trước cô cao tới 1m76!
Hồi cô đưa A Cẩm đi học bơi, huấn luyện viên vừa nhìn thấy chiều cao của cô đã hỏi ngay chiều cao của người nhà và bố ruột A Cẩm, rồi tấm tắc khen A Cẩm có tố chất bơi lội bẩm sinh!
Giờ nghe Ngô nhị tỷ than phiền về chiều cao, Hứa Minh Nguyệt lập tức lắc đầu, giọng chắc nịch cổ vũ: “Sao chị lại nghĩ thế? Cao 1m68 là đẹp lắm đấy! Nhất lộc phát (168 - đồng âm với 'nhất lộ phát' nghĩa là phát tài phát lộc) mà! Chị cao thế này gả về nhà ai là cải thiện gien cho nhà đấy, chiều cao này chính là của hồi môn quý giá nhất của chị đấy!”
Ngô nhị tỷ lần đầu nghe thấy cách lập luận này, ngẫm nghĩ thấy cũng có lý thật!
Cô ấy vốn là người tự tin, nghe Hứa Minh Nguyệt nói vậy, chút lấn cấn về chiều cao cũng tan biến. Đúng là thế thật, nếu cô lùn tịt mà lấy phải ông chồng lùn nữa thì chẳng phải đẻ ra một đàn lùn tịt sao?
Cô ấy nhìn Hứa Minh Nguyệt từ đầu đến chân: “Cô cũng đâu có thấp!”
Hứa Minh Nguyệt gật đầu lia lịa: “Em mà cao được như chị thì tốt quá.”
Ngô nhị tỷ nói: “Cô cao thế là vừa đẹp, tôi thì hơi quá khổ.”
Từ nhỏ đến lớn, nhìn quanh toàn thấy đỉnh đầu người khác. Trong đám đàn ông con trai, người cao bằng cô đã hiếm, nói gì đến người cao hơn.
Hứa Phượng Đài cao lớn như vậy hoàn toàn là do di truyền, bố anh làm nghề khiêng kiệu, mà tiêu chuẩn đầu tiên để địa chủ tuyển phu kiệu là phải cao to khỏe mạnh.
Cô ấy quay đầu liếc nhìn Mạnh Phúc Sinh vẫn im lặng nắm c.h.ặ.t t.a.y Hứa Minh Nguyệt không buông. Trong lòng cô ấy thực ra khá ưng chiều cao của anh, chỉ là dáng người gầy quá, đàn ông mà gầy yếu thế này thì làm ăn được gì? Nuôi vợ con kiểu gì?
Cô ấy chỉ nhìn thoáng qua rồi quay đi, cắm cúi đi về phía núi. Đi chừng nửa tiếng, cuối cùng họ cũng đến một ngôi làng thưa thớt vài hộ dân, nhà nọ cách nhà kia khá xa.
Khi đi ngang qua một ngôi nhà đất, Ngô nhị tỷ gọi vọng vào: “Bà ngoại ơi?”
Giọng cô vang và khỏe. Người bên trong nghe tiếng, ngạc nhiên đáp: “Là Nhị Nha đấy à? Sao giờ này cháu lại đến đây?”
Cửa mở, một bà cụ tóc bạc phơ, gầy trơ xương bước ra.
Hôm mùng hai Tết về thăm nhà, Ngô đại nương mới gửi cho nhà mẹ đẻ ít khoai lang để cầm cự qua ngày, không đến nỗi c.h.ế.t đói. Chỉ cần qua được đầu xuân này, rau dại, lá cây mọc lên là họ có đường sống.
Ngô nhị tỷ gọi với vào: “Bà ngoại, bà mau vào nhà đi, ngoài trời lạnh lắm. Cháu dẫn hai người khách đi tìm thợ đóng thuyền!”
Bà cụ gầy đến mức má hóp lại, chỉ còn da bọc xương, nhưng tinh thần vẫn minh mẫn, phẩy tay: “Đi đi, cháu đi đi.” Bà cũng chẳng mời cháu vào nhà ăn cơm.
Thực tình trong nhà cũng đang phải ăn rễ cây, vỏ cây, chẳng có gì đãi khách. Chút khoai lang, đậu nành ít ỏi là do con gái gửi về.
Ngô nhị tỷ vẫy tay: “Bà ngoại, cháu đi đây!”
Rất nhanh, họ băng qua những bờ ruộng bậc thang ven núi, đến trước một khoảng sân biệt lập.
“Ông Chín! Ông Chín ơi! Có nhà không?” Ngô nhị tỷ gõ cổng. (Theo phương ngôn vùng này, bà ngoại gọi là gia bà hoặc a bà, ông ngoại ruột là gia công, còn lại gọi là a công - ông).
Một lát sau, bên trong vọng ra giọng nói yếu ớt của một thanh niên: “Ai đấy?”
“Đại Thuận! Có người muốn đóng thuyền mui, tôi dẫn khách đến đây, cậu mở cửa cái!” Ngô nhị tỷ nói lớn.
Lát sau, một thanh niên mặc áo bông xám, tóc tai bù xù, mặt mày xanh xao bước ra: “Là chị Hai à!”
Tuy chàng thanh niên trông đói khát, xanh xao vàng vọt, nhưng chiếc áo bông trên người lại ít miếng vá. Khác với những chiếc áo bông rách nát, vá chằng vá đụp, lông gà lông vịt bay tứ tung mà Hứa Minh Nguyệt thường thấy, chiếc áo của cậu ta rõ ràng là áo bông cotton xịn, nhìn qua là biết rất ấm.
Đến thời đại này lâu như vậy, loại áo bông cotton này cô chỉ thấy vài người như Chủ nhiệm Hứa, Bí thư đại đội hay Vương Căn Sinh mặc. Còn đa phần dân làng đều mặc áo nhồi hoa lau, lông vịt, hoặc có áo bông thì cũng cũ nát, bông vón cục cứng ngắc.
Có thể thấy, gia đình cậu thanh niên gầy gò này trước nạn đói hẳn là thuộc diện khá giả.
Đại Thuận mở cổng cho ba người vào. Trong sân có một cái lán tranh rộng, bên dưới kê hai chiếc thuyền đang đóng dở trên ghế gỗ. Góc lán còn chất đống đồ gỗ khác như bàn ghế, tủ kệ.
Đại Thuận nhìn Hứa Minh Nguyệt và Mạnh Phúc Sinh, soi xét quần áo rồi đến sắc mặt hồng hào của hai người, sau đó quay sang hỏi Mạnh Phúc Sinh: “Là các người muốn đóng thuyền mui à? Muốn loại to cỡ nào?”
Hứa Minh Nguyệt hỏi: “Có những kích cỡ nào? Kiểu dáng ra sao? Có bản vẽ không?”
Cậu thanh niên dẫn họ đến lán tranh, chỉ vào mấy mô hình thuyền nhỏ trên kệ gỗ: “Không có bản vẽ, cô xem cái này là được. Muốn kiểu nào tôi đóng kiểu đó, gỗ khác nhau thì giá khác nhau.”
Ngô nhị tỷ xen vào: “Tôi bảo cô ấy mang ít lương thực đến đặt cọc thay tiền, cậu thấy thế nào?”
Đôi mắt lờ đờ thiếu sức sống của Đại Thuận bỗng sáng rực lên, cậu ta nhìn Hứa Minh Nguyệt đầy mừng rỡ: “Được! Sao lại không được? Cô mang bao nhiêu lương thực? Còn nữa không? Không lấy tiền, trả toàn bộ bằng lương thực cũng được!”
Ngô nhị tỷ tháo chiếc gùi trên lưng xuống đưa cho Hứa Minh Nguyệt. Cô lấy ra một túi đậu nành: “Đậu nành rang...”
Lời còn chưa dứt, túi đậu nành đã bị cậu thanh niên giật lấy. Cậu ta bốc vội mấy hạt nhét vào mồm nhai ngấu nghiến. Nhai được mấy cái, hai hàng nước mắt lăn dài trên má cậu ta. Cậu ta mở đôi mắt đẫm lệ nhìn Hứa Minh Nguyệt, rồi lại như nhìn lên trời, cảm thán: “Là đậu nành rang muối!”
Từ khi gia đình bị quy là phú nông và bị đấu tố, họ phải trốn vào núi sâu này, kẹp c.h.ặ.t đuôi mà sống, không dám ra ngoài. Muối ăn đều phải nhờ người thân bạn bè mua giúp, nhưng làm gì có nhiều người giúp mãi được? Thời buổi kinh tế kế hoạch, những sơn dân trốn trong núi không có phiếu muối thì lấy đâu ra muối mà ăn?
Vì thế, những thực phẩm tẩm muối đối với họ là thứ xa xỉ phẩm vô cùng quý giá.
Chẳng hạn như lần đầu Hứa Phượng Đài đến nhà Triệu Hồng Liên dạm ngõ, anh mang theo hai con cá mặn quý hiếm.
Năm cân đậu nành Hứa Minh Nguyệt mang đến lại còn được rang muối, bảo sao Cao Đại Thuận không xúc động rơi nước mắt?
Cậu ta nói với Ngô nhị tỷ và Hứa Minh Nguyệt: “Mọi người chờ tôi một lát, nhà tôi hết lương thực lâu rồi, tôi mang ít đậu nành vào cho bố tôi ăn đã.”
Họ hiện tại toàn phải nghiền rễ cây, vỏ cây ra ăn. Bột rễ cây, vỏ cây ăn nhiều gây táo bón nghiêm trọng, không đi vệ sinh được. Cậu ta còn trẻ còn đỡ, chứ bố cậu ta gần 50 tuổi, nếu không nhờ đào được ít củ sắn dây, hay đợt trước xuống núi đào củ sen làm bột, thi thoảng pha lẫn với bột vỏ cây uống cầm hơi, thì e là ông cụ đã không qua khỏi.
Nhưng sắn dây trên núi đâu dễ kiếm? Những thứ ăn được trên núi đã bị dân sơn tràng đào xới tung lên hết rồi.
Cậu ta chạy biến vào nhà, rồi rất nhanh lại chạy ra.
Cậu ta xách túi đậu nành lên ướm thử trọng lượng, nói: “Chỗ này chắc được hơn năm cân. Cái túi tôi cũng lấy luôn nhé. Cô xem chỗ cô còn lương thực không? Khoai lang, đậu nành, ngô gì cũng được hết. Giá cả đóng thuyền tôi không lấy lãi đâu, gỗ cũng sẽ chọn loại tốt nhất cho cô.” Hai tay cậu ta vô thức vò vạt áo, đôi mắt mong chờ nhìn Hứa Minh Nguyệt đầy vẻ cầu khẩn: “Cô xem có thể đổi thêm ít lương thực nữa không?”
Cậu ta muốn lấy cái túi vải bố đựng đậu nành của Hứa Minh Nguyệt, một là vì thấy túi rất sạch sẽ, hai là vì túi đựng đậu nành rang muối chắc chắn sẽ thấm vị mặn. Khi nào nhà hết muối, đem cái túi đó nhúng vào nước sôi khoắng lên, cũng được vài bát nước muối loãng, còn hơn là ăn nhạt thếch không có sức.
Hứa Minh Nguyệt biết những năm hạn hán người trong núi sống rất khổ sở, vừa hay nhà cô cũng dư dả lương thực, bèn gật đầu: “Lần sau tôi sẽ mang thêm ít khoai lang và đậu nành khô đến. Chỗ đậu nành rang này coi như tiền đặt cọc trước nhé?”
