Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 152
Cập nhật lúc: 31/12/2025 14:05
Mấy ngày nay, Hứa Kim Hổ thường xuyên chạy qua chạy lại giữa công xã Thủy Phụ và huyện Ngô Thành, cùng Giang Thiên Vượng gấp rút thúc đẩy dự án đắp đê dẫn nước, khai hoang ruộng đồng.
Phía đại đội Lâm Hà, việc ngăn sông Trúc T.ử làm ngư trường cũng đang được tiến hành rầm rộ.
Lúc này, tuy nước sông Trúc T.ử có dâng lên đôi chút nhưng vẫn chưa phải lúc sâu nhất trong năm. Mùa nước lên thường bắt đầu từ tiết Vũ Thủy khi mưa xuân rả rích, kéo dài đến sau tiết Thanh Minh, và đạt đỉnh vào khoảng tháng 6 đến tháng 8.
Vì vậy, dù qua một mùa đông mưa nhiều, mặt sông đã đủ để thuyền nhỏ đi lại, nhưng mực nước vẫn còn rất thấp. Nếu đẩy nhanh tiến độ, việc đắp đoạn đê dài 200 mét có thể hoàn thành trước vụ cày bừa mùa xuân.
Hứa Minh Nguyệt cũng thường xuyên lui tới công trường đắp đê của đại đội Lâm Hà để giám sát.
Người dân Lâm Hà giờ ai cũng sợ cô. Vừa thấy bóng dáng cô từ xa, những người đang vừa làm vừa tán gẫu liền giật mình, vội vàng im bặt, cắm cúi làm việc ra vẻ chăm chỉ.
Hứa Minh Nguyệt đi một vòng, cười nói chào hỏi khách sáo, quan tâm sức khỏe mọi người, tiện thể hỏi han tiến độ công việc.
Vài ngày sau, Hứa Kim Hổ lại gọi Hứa Minh Nguyệt lên huyện Ngô Thành. Lần này không chỉ có Giang Thiên Vượng và Hứa Kim Hổ của công xã Thủy Phụ, mà Bí thư, Chủ tịch của công xã Ngũ Công Sơn cũng có mặt. Tất cả cùng nhau bàn thảo về kế hoạch đắp đê dẫn nước, giải quyết vấn đề tưới tiêu cho hơn một vạn mẫu đất trải dài từ đại đội Lâm Hà qua đại đội Thạch Giản đến tận công xã Ngũ Công Sơn.
Về việc điều chỉnh tuyến đê, người khởi xướng là Hứa Minh Nguyệt. Dù cô đã từng nói qua về ý tưởng dẫn nước tưới ruộng, nhưng Hứa Kim Hổ và những người khác vẫn chưa nắm rõ chi tiết cụ thể.
Hứa Kim Hổ nói: “Chuyện này cũng dễ thôi. Đào đến đại đội nào thì đại đội đó phụ trách đắp đê đoạn ấy. Lòng sông đào sâu bao nhiêu, rộng thế nào thì các ông tự bàn bạc. Còn chuyện sông sâu hay cạn, nước có đủ tưới cho ruộng hay không thì các ông tự tính toán lấy!”
Dù đây là một chiến tích lớn, nhưng Hứa Kim Hổ vốn tính ích kỷ. Ông hiện là Chủ nhiệm vũ trang công xã Thủy Phụ, chẳng mặn mà gì với chuyện bên công xã Ngũ Công Sơn, chỉ muốn lo cho tốt việc nhà mình. Còn chuyện ruộng đất của các đại đội bên Ngũ Công Sơn có đủ nước tưới hay không thì liên quan quái gì đến Hứa Kim Hổ ông?
Giang Thiên Vượng đã bàn bạc kỹ và hoàn toàn tán đồng phương án của Hứa Minh Nguyệt. Ông dùng nắp b.út gõ nhẹ lên mặt bàn họp, nói: “Về phương án điều chỉnh cụ thể, xin mời đồng chí Hứa - Thường vụ Đảng ủy công xã Thủy Phụ kiêm Chủ nhiệm phụ nữ nông trường Cửa Sông Bồ - trình bày báo cáo.”
Lần này phòng họp chật kín người. Không chỉ có Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch huyện, hai Phó chủ tịch huyện, Bí thư và Chủ tịch của hai công xã liên quan, mà còn có lãnh đạo của các công xã lân cận huyện Ngô Thành. Mọi người ngồi vây quanh chiếc bàn họp lớn.
Hứa Minh Nguyệt bình tĩnh đứng dậy, cầm phấn bước lên trước bảng đen.
Quen dùng PowerPoint thuyết trình, giờ không có công nghệ hỗ trợ, cô đành dùng tay vẽ sơ đồ tuyến đường: “Đại đội Lâm Hà chúng tôi vốn dĩ đã có sẵn một con kênh, thông thẳng đến đại đội Thạch Giản. Theo lý thuyết, chúng tôi không cần đào kênh này, chỉ cần đại đội Ngũ Công Sơn cử người đến nạo vét, đắp cao bờ đê hai bên là xong. Nhưng sau khi bàn bạc với Phó chủ tịch Chu, Phó chủ tịch Tôn và Bí thư Giang, Chủ nhiệm Hứa, chúng tôi thấy không thể chỉ nhìn cái lợi trước mắt mà phải có tầm nhìn xa hơn. Vì vậy, chúng tôi dự định mở rộng con đê bên kia sông, nối liền với đê dưới chân núi Thán Sơn, đồng thời xây dựng một con đê rộng đủ cho hai làn xe chạy ngay tại cửa sông để kết nối hai bờ!”
Hiện tại việc xây dựng đê chia làm hai loại. Một loại là đê phía bắc sông Đại Hà, mặt đê rộng 6-7 mét, sau này trở thành nền móng cho các tỉnh lộ.
Còn đê phía nam sông Đại Hà của họ thì sao? Mặt đê chỉ rộng 1,5 đến 2 mét, không có chức năng giao thông mà chỉ dùng để chống lũ.
Theo Hứa Minh Nguyệt, đây là một sự lãng phí to lớn.
Thực ra ngay từ đầu, nếu đã xây dựng hàng trăm dặm đê, tại sao lại bỏ qua đoạn đê ngắn nối Lâm Hà với Thán Sơn?
Nếu con đê này cũng được xây rộng 6-7 mét thì hai bờ sông Đại Hà sẽ được nối liền, giải quyết dứt điểm vấn đề đi lại khó khăn hàng trăm năm nay của vùng phía nam sông Đại Hà!
Thán Sơn nhờ có mỏ than lớn nên đường sá được thông thương từ sớm, sau này tỉnh lộ cũng chạy từ công xã Thủy Phụ đến Thán Sơn, giúp giao thông ở đó rất phát triển.
Còn đại đội Lâm Hà bên kia sông thì sao? Quanh năm suốt tháng mong chờ một cây cầu, mong mỏi mấy chục năm trời mà đường vẫn chẳng đi qua đê, lại vòng vèo qua núi sâu của đại đội Thạch Giản, đi một vòng lớn mới ra ngoài được.
Hậu quả là sự phát triển của Lâm Hà còn kém cả vùng núi sâu.
Bởi vì con đường ngắn nhất, tiện lợi nhất từ Lâm Hà đến Thán Sơn không thông, Lâm Hà sẽ vĩnh viễn bị kẹt giữa dòng sông lớn, trước mặt là sông, sau lưng là núi, mãi mãi bị cô lập với thế giới bên ngoài.
Cho dù sau này có mượn đường qua công xã Ngũ Công Sơn, đi vòng qua núi sang, nhưng đường núi vốn quanh co khúc khuỷu, lại thêm bớt xén vật liệu, đầu đường rộng 5 mét vào đến trong chỉ còn 2 mét, hai xe tránh nhau còn khó.
Điều này cản trở nghiêm trọng sự phát triển kinh tế của Lâm Hà.
Hiện tại đang là thời điểm bắt đầu xây dựng đê điều, chi bằng sửa lại đoạn đê này, nối thông đường từ Lâm Hà sang Thán Sơn bên kia sông. Như vậy người dân Lâm Hà sau này đi lại thuận tiện hơn, đỡ phải đời đời kiếp kiếp ngóng trông một cây cầu.
Phấn trên tay Hứa Minh Nguyệt vẽ từng nét rõ ràng lên bảng đen, phác họa tuyến đê sau khi điều chỉnh: “Một khi đoạn đê thông sang Thán Sơn được hoàn thành, thì đại đội Hòa Bình, Kiến Thiết, và tất cả các đại đội ven sông phía nam, thậm chí cả các đại đội trong núi sâu xa hơn đều có thể đi qua đoạn đê này của Lâm Hà để ra ngoài. Điều này sẽ kết nối kinh tế hai bờ sông Trúc Tử, kéo theo sự phát triển và khai phá kinh tế của cả vùng núi sâu bên trong!”
Lúc đầu khi Hứa Minh Nguyệt đưa ra phương án này, mọi người chủ yếu quan tâm đến hơn một vạn mẫu ruộng có thể khai khẩn. Họ thực sự chưa có tầm nhìn kinh tế xa như vậy. Kiếp trước, việc xây đê đã biến vùng đất phía nam sông Đại Hà thành một ốc đảo cô lập. Phải đến sau năm 2000, thôn mới được làm đường, mà cũng chỉ là con đường xi măng hẹp đến mức một chiếc xe đi còn khó khăn.
Kế hoạch điều chỉnh đê của Hứa Minh Nguyệt không chỉ giải quyết vấn đề tưới tiêu cho hàng vạn mẫu đất mà còn giải quyết bài toán kinh tế cho cả hai bờ sông.
Đây là điều mà trước nay chưa ai nghĩ tới cho vùng đất "tuyệt địa" phía nam sông Đại Hà này.
Thành phố bên cạnh sau này có xây một cây cầu lớn vượt sông Trường Giang nối liền hai bờ, nhưng cây cầu đó quá xa, chỉ thúc đẩy kinh tế cho thành phố đó chứ chẳng giúp ích gì cho vùng này.
Ngay cả Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch huyện và các chuyên gia thủy lợi vốn chỉ chăm chăm vào việc khai hoang ruộng đất, giờ nghe xong cũng phải nghiêm túc suy ngẫm.
Hứa Minh Nguyệt không nhắc đến chuyện giữ lại một đoạn sông Trúc T.ử làm ngư trường riêng cho Lâm Hà, vì đó là chuyện tư lợi, có thể làm nhưng khó nói ra. Cô tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác.
“Thưa Bí thư, Chủ tịch huyện, Phó chủ tịch Chu, Phó chủ tịch Tôn, mọi người đều biết sở dĩ đại đội Lâm Hà chúng tôi vẫn đủ nước tưới ruộng trong ba năm thiên tai là nhờ đã sớm đào một con kênh lớn dẫn nước từ sông Trúc Tử. Nếu con đê của chúng ta chạy dọc theo hướng đại đội Thạch Giản, thông thẳng đến vùng đất rộng lớn dưới chân núi Ngũ Công, thì để giải quyết vấn đề tưới tiêu, chỉ cần một con kênh lớn là đủ. Nhưng nếu không chỉ là kênh rạch, mà là một dòng sông...”
Cô dùng phấn tô đậm thêm chiều rộng của con kênh, nói tiếp: “Chỉ cần mở rộng kênh lớn thêm 3 đến 5 mét, là có thể đồng thời giải quyết vấn đề giao thông cho công xã Ngũ Công Sơn, thậm chí cả bà con vùng núi sâu hơn nữa. Người dân trong núi có thể đi thuyền theo đường sông Ngũ Công Sơn, gần thì ra thẳng phố công xã, xa thì theo đường sông vào sông Trúc Tử, đến công xã Thủy Phụ và thành phố bên cạnh...”
Hứa Minh Nguyệt chưa dứt lời thì có người lắc đầu phản đối: “Không ổn. Hiện tại đi đâu cũng phải có giấy giới thiệu, làm sao để người dân tự do đi lại thế được? Như vậy là không được.”
Hứa Minh Nguyệt khựng lại. Cô đưa ra phương án này hoàn toàn dựa trên góc độ kinh tế của đời sau, mà quên mất rằng thời đại này gián điệp, đặc vụ hoạt động mạnh. Để phòng chống, người dân bị hạn chế đi lại, không được tùy tiện ra khỏi địa phương cư trú.
Hứa Minh Nguyệt nhanh trí chuyển giọng cười nói: “Là tôi suy nghĩ chưa thấu đáo, chỉ chăm chăm lo cho lợi ích của bà con phía nam sông Đại Hà, muốn thúc đẩy kinh tế hai bờ mà quên mất điều này. Vẫn là các lãnh đạo suy nghĩ chu toàn, sâu sắc hơn.”
Cô dừng lại, nhường lời cho vị lãnh đạo cao nhất là Bí thư Huyện ủy.
Bí thư Huyện ủy nghe xong quy hoạch của Hứa Minh Nguyệt, quay sang các chuyên gia và lãnh đạo các công xã khác: “Sự việc là như thế, tình hình là như vậy. Nghe đồng chí Tiểu Hứa trình bày xong, các đồng chí có ý kiến hay bổ sung gì không? Chúng ta cùng thảo luận xem việc này có làm được không, làm như thế nào, đưa ra phương án cụ thể!”
Lãnh đạo các công xã lân cận không ngờ công xã Thủy Phụ vừa làm nên chuyện lớn với nông trường Cửa Sông Bồ ba năm trước, giờ lại tiếp tục có động thái lớn thế này. Lần trước là 6-7 ngàn mẫu đất nông trường, lần này là khai hoang hơn một vạn mẫu ruộng, giải quyết triệt để vấn đề thiếu ruộng, thiếu nước của cả vùng rộng lớn quanh công xã Ngũ Công Sơn.
Họ từng nghe nói nông trường Cửa Sông Bồ là do một cô gái trẻ đề xuất phương án và Hứa Kim Hổ thực hiện. Giờ nhìn Hứa Minh Nguyệt trẻ tuổi mà đã làm nên chuyện lớn thế này, họ đoán chắc người đứng sau ý tưởng nông trường Cửa Sông Bồ tám chín phần mười cũng là cô.
Có người nêu ý kiến: “Nếu chỉ để giải quyết tưới tiêu thì đào kênh như Lâm Hà là được rồi. Đào sông rộng quá vừa tốn kém tiền của, sức dân lại có hạn, không biết bao nhiêu năm mới xong cái gọi là đường sông ấy.”
Lại có người nói: “Còn chuyện nắn tuyến đê cũ để nối liền hai bờ, hiện tại có thuyền bè đi lại trên sông, hai bờ vốn đã thông thương rồi. Xây thêm con đê này không biết tốn bao nhiêu nhân lực vật lực, lại là chuyện hao tiền tốn của, căn bản không cần thiết!”
“Đúng đấy, sắp đến vụ cày bừa mùa xuân rồi, lấy đâu ra thời gian đi đắp thêm một con đê nữa? Việc xây đê vốn đã được các chuyên gia thiết kế từ trước, đâu phải nói sửa là sửa được ngay? Các vị phía nam sông có thuyền bè đi lại, cần gì phải xây đê rộng thế. Phía bắc chúng tôi không có cách nào khác mới phải xây rộng, chứ nếu được xây hẹp hơn thì chúng tôi cầu còn chẳng được!”
Đây là lời của những người chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, không thấy được tầm nhìn chiến lược khi con đê trở thành tỉnh lộ, thúc đẩy kinh tế cho công xã và các đại đội của họ.
Chỉ cần so sánh một chút: người dân phía bắc sông Đại Hà những năm 80-90 đã có đường nhựa phẳng lì đi lại. Trong khi người dân phía nam sông Đại Hà đến năm 2005 vẫn phải cuốc bộ khổ sở hơn hai tiếng đồng hồ trên con đường đê nhỏ hẹp mới ra được bên ngoài.
Tư duy của con người thời đại này bị hạn chế rất nhiều bởi hoàn cảnh và chính sách. Nghe những ý kiến phản đối, Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch huyện vốn đã bị Hứa Minh Nguyệt thuyết phục giờ lại bắt đầu do dự. Họ quay sang hỏi Phó chủ tịch Chu và Phó chủ tịch Tôn: “Lão Chu, lão Tôn, hai ông đều từ Thủy Phụ đi lên, hiểu rõ Thủy Phụ nhất, hai ông thấy thế nào?”
Phó chủ tịch Tôn từng tận mắt chứng kiến sự nghèo khó của đại đội Lâm Hà ba năm trước, chẳng khác gì các đại đội Hòa Bình, Kiến Thiết, Thạch Giản lân cận. Ông cũng hiểu rõ trong ba năm thiên tai, Giang Thiên Vượng và Hứa Kim Hổ đã chèo lái Lâm Hà từ một thôn nghèo đói trở thành vựa lúa cứu sống bao nhiêu người như thế nào.
