Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 173:------
Cập nhật lúc: 01/01/2026 11:44
Làm thêm ba tiếng nữa, nghe tiếng kẻng lanh lảnh của đội trưởng dân quân vang lên, không cần ai nhắc, mọi người tự biết đã đến giờ về ăn cơm trưa.
Trời tháng Sáu, lại đang giữa trưa, nắng nóng như đổ lửa.
Nhiều người nóng không chịu nổi, bèn cởi áo tù bằng vải bố trên người ra, nhúng xuống sông vò qua, rồi dùng chính cái áo ướt sũng ấy làm khăn, lau sạch đầu tóc, mặt mũi, cổ và cánh tay, sau đó lau qua người, cuối cùng trùm cả cái áo ướt lên đầu cho mát để đi về.
Rất nhiều người đều làm như vậy.
Nhóm của giáo sư Trần ai nấy đều mệt đứt hơi. Đào đất đâu chỉ đơn giản là xới tơi đất lên, mà còn phải xúc từng xẻng bỏ vào sọt, liên tục có người đến mang sọt đầy đi, rồi gánh đất đó lên đầm trên mặt đê.
Nhà ăn ở Cửa Sông Bồ cũng chia khu nam nữ riêng biệt.
Ban đầu nhóm giáo sư Trần đi cùng nhau, hai nữ giáo sư cũng định theo đám đông sang khu nhà ăn nam, nhưng liền bị mấy người phụ nữ trung niên đứng ở đầu kia gọi giật lại: "Khu nhà ăn nữ ở bên này!"
Hai nữ giáo sư cũng đã kiệt sức, nghe tiếng gọi thì ngẩng lên, nhìn nhóm giáo sư Trần rồi lại nhìn sang lối vào nhà ăn phía bên kia.
Giáo sư Trần vỗ vỗ mu bàn tay vợ: "Bà qua bên đó đi. Nhìn cách sắp xếp từ sáng đến giờ, chỗ này xem ra cũng có trật tự quy củ lắm."
Hiện tại họ sợ nhất là tình trạng hỗn loạn, vô pháp vô thiên, kiểu như chỉ cần có kẻ hô hào khẩu hiệu là có thể tùy ý lôi họ xuống vực sâu.
Bữa trưa hôm nay phong phú đến bất ngờ: một bát miến rau dại, một củ khoai lang và một phần trai sông hấp tỏi băm.
Vỏ trai rất sắc, để đề phòng phạm nhân dùng vỏ trai làm hung khí, trai sông trong bữa trưa đều đã được tách bỏ vỏ. Thành phố kế bên trồng nhiều gừng, trai sông được khử tanh bằng gừng hành, bên trên rưới sốt tỏi băm gừng nhuyễn. Thịt trai mềm ngọt, tươi ngon. Một bữa cơm tù thịnh soạn như vậy khiến nhóm giáo sư Trần không dám tin vào mắt mình.
Ông cứ tưởng ăn xong bữa trưa sẽ phải tiếp tục ra bờ sông phơi nắng làm việc, nào ngờ các phạm nhân xung quanh ăn xong lại lục tục trở về phòng giam của mình để... ngủ trưa.
Nhóm giáo sư Trần đi theo đám đông về phòng, ngồi trên giường đất mà ngơ ngác nhìn nhau.
Phạm nhân ở nông trường cải tạo lao động mà buổi trưa cũng được nghỉ ngơi sao?
Thời gian nghỉ trưa kéo dài hai tiếng. Dù là dân quân hay phạm nhân ở Cửa Sông Bồ, sức lực tiêu hao đều đã hồi phục được phần nào. Tuy nhiên, sau khi dậy họ vẫn chưa phải đi làm ngay mà bắt đầu giờ học tập "Trích dẫn lời Chủ tịch".
Sách "Hồng bảo thư" không có nhiều, nên các cán bộ chép những câu trích dẫn của Chủ tịch lên bảng đen bằng chữ to đùng, mỗi ngày dạy một câu. Trên bức tường lớn ở sảnh đã viết chi chít các câu trích dẫn. Nửa giờ đầu dùng để ôn tập câu cũ, sau đó học câu mới.
Phần lớn dân quân và phạm nhân ở đây đều mù chữ, dạy nhiều quá họ không nhớ nổi. Mỗi ngày chỉ học một câu, ngày nào cũng ôn lại, thế mà cũng học ra ngô ra khoai.
Cứ thế qua nửa giờ, lúc này đã là 2 giờ rưỡi chiều. Mặt trời vẫn còn gay gắt, nhưng dù sao cũng đỡ hơn là làm quần quật từ sáng đến tối không nghỉ. Mọi người lại bắt đầu cầm xẻng gỗ, đòn gánh, sọt, dây thừng đi ra đê.
Trên công trường rải rác rất nhiều công cụ như xe cút kít. Ở những đoạn đường bằng phẳng, dùng xe cút kít chở gạch đá đỡ tốn sức hơn nhiều so với gánh bộ.
Làm việc đến sáu giờ chiều, những người xong việc lại tắm rửa ngay tại bờ sông, rồi lục tục trở về trại ăn cơm tối.
Bữa tối thường là bữa ít nhất trong ngày, chỉ có một bát cháo ngũ cốc nấu với trai sông và gừng băm.
Vì vùng này trồng nhiều gừng nên người dân rất thích ăn gừng, kể cả gừng sống cũng ăn ngon lành. Gừng băm kết hợp với thịt trai béo ngậy tươi ngon, trộn lẫn trong cháo ngũ cốc rau dại có vị mặn vừa phải. Dù chỉ được một bát tre, nhưng chút thịt trai ấy vẫn đủ bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể thiếu chất của họ. Ăn xong, ai nấy đều thỏa mãn l.i.ế.m sạch bát, cùng nhau trở về phòng giam, tán gẫu dăm ba câu rồi chẳng mấy chốc tiếng ngáy đã vang rền như sấm.
Cho đến nay, nông trường Cửa Sông Bồ chưa từng xảy ra vụ bạo loạn hay vượt ngục nào.
Họ đều là những người sống sót qua ba năm thiên tai, hiểu rõ rằng thời buổi này có cái ăn cái uống, không bị c.h.ế.t đói đã là may mắn lắm rồi. Ở Cửa Sông Bồ là ngày nào cũng phải làm việc, trời chưa sáng đã phải dậy, nhưng ở đâu mà chẳng phải làm? Đừng nói người từ miền Bắc di cư tới, ngay cả dân bản địa chẳng phải ngày nào cũng dậy từ tờ mờ sáng đi đắp đê, làm đến khi mặt trời xuống núi đó sao?
Ít nhất ở đây, chỉ cần không gây sự thì sẽ không bị đ.á.n.h đập vô cớ, lại còn được ăn no.
Trải qua một ngày ở đây, nhóm giáo sư Trần lê tấm thân mệt mỏi về phòng giam. Ngay khi họ tưởng rằng ngày hôm nay sẽ kết thúc bình yên như thế, thì đột nhiên một tiểu đội dân quân xuất hiện, gọi họ ra ngoài.
Nhóm giáo sư Trần chỉ thấy hàm răng va vào nhau cầm cập, cả người run rẩy. Cuối cùng, họ cũng run rẩy đứng dậy, sắc mặt xám ngoét đi trước mũi s.ú.n.g của dân quân, chuẩn bị đối mặt với màn thẩm vấn và đ.á.n.h đập đen tối, tuyệt vọng tiếp theo.
Mấy tháng nay, họ đã quen với cảnh này rồi không phải sao?
Ở đâu cũng thế thôi.
Nhưng họ vẫn sợ hãi, vẫn tuyệt vọng, lòng tràn đầy chua xót và thê lương.
Tuổi trẻ nhiệt huyết kháng Nhật vì nước vì dân, vất vả lắm đất nước mới thái bình, hưởng ngày lành chưa được bao lâu thì lại rơi vào hoàn cảnh tăm tối thế này. Cả đời cống hiến cực khổ rốt cuộc để làm gì? Không đáng! Thật không đáng!
Bầu m.á.u nóng không phải rơi vào hầm băng, mà là rơi vào vũng bùn, rơi xuống vực sâu. Thật sự không đáng!
Mấy người trong tiểu đội dân quân hoàn toàn không biết nỗi tuyệt vọng và đau khổ trong lòng các vị giáo sư, họ chỉ đơn giản là thi hành lệnh đưa mấy người này đến văn phòng chủ nhiệm mà thôi.
Đúng vậy, sau khi Hứa Kim Hổ chính thức thành lập "Ủy ban Cách mạng" tại công xã Thủy Phụ và nhậm chức Chủ nhiệm Ủy ban, ông ta lập tức bổ nhiệm tâm phúc của mình là Hứa Minh Nguyệt làm Chủ nhiệm sản xuất Cửa Sông Bồ, người đứng đầu nông trường này.
Huyện Ngô Thành đang ở vào thời khắc tranh giành quyền lực mấu chốt nhất. Biết tin Hứa Kim Hổ đã trở thành Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng công xã Thủy Phụ, các phe phái (Huyện ủy, Huyện trưởng) còn chưa rõ Hứa Kim Hổ thuộc phe nào, nên để lôi kéo ông ta - đồng thời cũng là để tự bảo vệ mình - họ nhanh ch.óng phê chuẩn quyết định bổ nhiệm Hứa Minh Nguyệt làm Chủ nhiệm Cửa Sông Bồ theo đề cử của Hứa Kim Hổ.
Bên cạnh đó, Bí thư Huyện ủy và Huyện trưởng cũng không muốn đắc tội với một Hứa Kim Hổ đang nắm trong tay vài trăm dân quân vào lúc này. Phó huyện trưởng Tôn thì càng không cần nói, ông ta đang đứng mũi chịu sào bị đấu tố, Hứa Kim Hổ lại là người của ông ta, ông ta chỉ có nước bảo vệ chứ không đời nào ngáng chân.
Chỉ là lần này Phó huyện trưởng Tôn sa lầy, tạm thời mất đi quyền lực. Trước đó Hứa Kim Hổ không biết chuyện này, giờ biết thì cũng đã muộn.
Nông trường Cửa Sông Bồ tuy trực thuộc công xã Thủy Phụ nhưng cấp bậc hành chính ngang hàng với một công xã bình thường. Công xã Thủy Phụ chỉ cao hơn Cửa Sông Bồ nửa cấp. Ví dụ như Hứa Minh Nguyệt, sau khi thành Chủ nhiệm sản xuất Cửa Sông Bồ, hiện tại cô đã là cán bộ bậc 18, ngang hàng với Bí thư công xã Ngũ Công Sơn bên cạnh. Trên danh nghĩa, Hứa Kim Hổ và Giang Thiên Vượng mới ở bậc 17, không có quyền trực tiếp bổ nhiệm Chủ nhiệm nông trường Cửa Sông Bồ mà bắt buộc phải trình lên cấp trên.
Nếu đợi cuộc đấu đá trên huyện kết thúc, chắc chắn sẽ có kẻ muốn tranh giành quyền kiểm soát nông trường Cửa Sông Bồ.
Nơi này có nhiều tiểu đội dân quân, nắm giữ một nông trường lớn và một nhà tù kiên cố. Bắt người xong tống vào đây thì muốn hành hạ thế nào chẳng được, lúc đó ai mà không sợ họ?
Lý do quyết định bổ nhiệm Hứa Minh Nguyệt được thông qua nhanh ch.óng như vậy, ngoài việc các phe phái chưa ngã ngũ, muốn lôi kéo Hứa Kim Hổ và tránh gây thù chuốc oán lúc này, còn một lý do nữa: Hứa Minh Nguyệt là phụ nữ.
Thân phận phụ nữ ở thời đại này nghiễm nhiên bị người ta coi thường.
Nếu là đàn ông làm người đứng đầu nông trường, họ sẽ lo ngại người đó nhanh ch.óng nắm thực quyền, sau này muốn cướp lại vị trí sẽ khó khăn. Nhưng để một người phụ nữ trẻ tuổi ngồi vào đó, họ nghĩ sau này muốn cướp lại chẳng phải dễ như trở bàn tay sao?
Hơn nữa, cứ để người phụ nữ này nếm chút mùi khổ sở ở cái nhà tù Cửa Sông Bồ này đã. Biết đâu cô ta không chịu nổi nhiệt, tự động xin chuyển đi, lúc đó họ tiếp quản lại càng không tốn chút sức lực nào.
Trong nỗi tuyệt vọng và bi phẫn của nhóm chuyên gia, người dân quân dẫn họ qua một cánh cửa sắt riêng biệt khác, đi vào khu văn phòng tầng 3 và gõ cửa phòng Hứa Minh Nguyệt.
Cửa văn phòng đang mở. Nhìn thấy họ, Hứa Minh Nguyệt không cười, chỉ thản nhiên nói một câu không mang theo chút cảm xúc nào: "Vào đi."
Đám dân quân đều biết nhà tù này do chính cô gái trẻ trước mặt chủ trì xây dựng. Thời Hứa Kim Hổ còn làm chủ nhiệm, ông ta nghe theo mọi kiến nghị của cô. Khi đó, ở nông trường Cửa Sông Bồ, ngoài Hứa Kim Hổ ra thì cô là người nói một không hai, uy thế rất lớn. Giờ cô lên làm người đứng đầu, cấp dưới không ai là không phục. Người dân quân cung kính nói: "Thưa chủ nhiệm, người cô cần đã đưa đến rồi ạ."
Lúc này Hứa Minh Nguyệt mới mỉm cười, thái độ hòa nhã: "Cho họ vào đi. Các anh đợi ở cửa một lát, vất vả cho các anh rồi."
Dưới trướng Hứa Kim Hổ, có bao giờ họ được đối xử khách khí thế này đâu, lập tức cảm thấy thụ sủng nhược kinh, mặt mày rạng rỡ hẳn lên: "Không vất vả, không vất vả đâu ạ. Chủ nhiệm cứ làm việc." Rồi quay sang quát nhóm giáo sư Trần: "Chủ nhiệm gọi các người đấy, còn không mau vào!"
Nhóm giáo sư Trần không biết điều gì đang chờ đợi mình, tê dại bước vào văn phòng.
Trên tường phòng làm việc của Hứa Minh Nguyệt treo hai chiếc đèn dầu hỏa loại bầu tròn chân hẹp, bên ngoài có chụp thủy tinh trong suốt để gió sông ban đêm không thổi tắt.
Trên bàn làm việc của cô cũng có một ngọn đèn dầu, khói dầu bốc lên ám một lớp màu xám nhẹ lên chụp đèn. Mạnh Phúc Sinh đang ngồi cách cô không xa.
Hứa Minh Nguyệt chỉ vào mấy chiếc ghế tre đặt dưới ánh đèn dầu trên tường: "Ngồi đi."
Mấy người họ đều sững sờ. Tình huống dường như không giống với tưởng tượng của họ, nhưng họ vẫn không dám lạc quan. Họ không biết Hứa Minh Nguyệt gọi họ đến làm gì. Trong những lần đấu tố và thẩm vấn trước đây, cũng không thiếu cảnh ban đầu cho họ ngồi xuống, sau đó bắt họ tự sám hối, tự sỉ vả bản thân, rồi tất cả mọi người xúm vào phê bình đấu tố.
Họ nơm nớp lo sợ, run rẩy ngồi xuống mép ghế tre, m.ô.n.g cũng không dám đặt hết xuống ghế.
Mấy người dân quân vẫn còn đứng bên ngoài, Hứa Minh Nguyệt đương nhiên sẽ không tỏ ra quá nhiệt tình với những người đang bị gán mác "xú lão cửu" hay "phản động" này.
Cô ngẩng đầu lên khỏi tập hồ sơ trên tay, nhìn về phía những người vừa ngồi xuống: "Ai là Trần Vệ Dân?"
Giáo sư Trần run rẩy đôi môi, giọng khàn đặc: "Tôi là Trần Vệ Dân."
Hứa Minh Nguyệt điền vào biểu mẫu trên tay: "Tuổi tác, dân tộc, quê quán?" Đợi hỏi xong những thông tin cơ bản này, cô mới hỏi tiếp: "Trước đây các ông làm nghề gì?"
Trần Vệ Dân run lên bần bật, suýt nữa thì bật khóc. Cả đời ông tận tụy dạy học và nghiên cứu, chuyên tâm làm học vấn, đến lúc gần đất xa trời lại vì cái nghề dạy học và nghiên cứu ấy mà mang tội.
Nhưng ông không dám không trả lời, giọng run run: "Giáo viên."
Ông run rẩy không phải vì sợ hãi, mà vì nỗi bi phẫn ngập tràn đang bao trùm lấy ông. Ông không hiểu thế giới này bị làm sao nữa. Giống như bầu trời đang trong xanh bỗng nhiên bị phủ lên một tấm màn đen dày đặc.
Giọng Hứa Minh Nguyệt vẫn bình tĩnh: "Sở trường là gì? Dạy chuyên ngành nào?"
Sở dĩ Hứa Minh Nguyệt hỏi vậy là vì hồ sơ cô nhận được chỉ có tên tuổi và tội danh, không ghi rõ chuyên môn của họ, cô cũng không biết ai trong số này là chuyên gia thủy điện mà Bí thư Chu nhắc tới.
Trần Vệ Dân nhắm c.h.ặ.t mắt, rồi lại bi thương mở ra: "Thủy lực."
Nhiều hơn một chữ ông cũng không dám nói. Những thứ từng là niềm tự hào của ông trong quá khứ, giờ đây đều trở thành tội lỗi.
Hứa Minh Nguyệt đăng ký xong một người, lại bắt đầu hỏi người tiếp theo.
Hứa Minh Nguyệt không am hiểu về thủy lợi, cũng không biết cách xây dựng trạm thủy điện. Sau khi hỏi han xong cô mới biết, mấy vị chuyên gia giáo sư trước mặt không phải đều cùng một lĩnh vực. Ví dụ như Trần Vệ Dân chuyên về thủy lực học và động lực sông ngòi, những người khác thì có người chuyên về kỹ thuật hóa học, có người chuyên về cơ giới hóa nông nghiệp.
Và phải đến khi hỏi xong, Hứa Minh Nguyệt mới vỡ lẽ tại sao những chuyên gia giáo sư này lại là nhóm trí thức đầu tiên bị hạ phóng trong cuộc động loạn mười năm này. Hóa ra không có ngoại lệ, tất cả bọn họ đều từng có thời gian đi du học ở nước ngoài.
