Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 231
Cập nhật lúc: 04/01/2026 12:03
Cô bé nhìn về phía nhà tù Bồ Cửa Sông với ánh mắt đầy khát khao. Ngước nhìn tòa thành lũy kiên cố, cao lớn được xây hoàn toàn bằng gạch đá và xi măng, cô bé buột miệng nói: “Anh cả, em cũng muốn làm người lao động cải tạo!”
Cậu bé định nói là không thể làm “lao động cải tạo” được. Đó là chuyện xấu mà người lớn tránh còn không kịp. Làm cái đó là không tốt, là phải làm việc không công cho nông trường Bồ Cửa Sông, phải đi gánh đá.
Cậu nói: “Làm lao động cải tạo không có công điểm đâu, phải đi gánh đá đấy!”
Cô bé kinh ngạc. Không có công điểm thì không được, không có công điểm sẽ không đổi được lương thực, sẽ c.h.ế.t đói mất.
Nhưng cô bé vẫn thắc mắc nhìn những người đang đi lại trên đường, gánh đá về phía đê đập Bồ Cửa Sông phía xa, hỏi: “Vậy bọn họ có bị c.h.ế.t đói không?”
Câu hỏi làm cậu bé cũng thấy hoang mang. Cậu nhìn về phía công trường đắp đê cách nông trường Bồ Cửa Sông sáu bảy dặm, gãi đầu nói: “Chắc là không đâu?”
Cậu đã đến nhà tù Bồ Cửa Sông hai lần rồi, hình như chưa nghe nói có ai bị c.h.ế.t đói cả: “Nếu c.h.ế.t đói thì lấy ai gánh đá cho họ chứ?”
Cô bé lại càng khó hiểu, hỏi tiếp: “Được cho cơm ăn, còn có nhà to để ở, vậy tại sao không được làm ‘lao động cải tạo’ chứ?” Cô bé thực sự muốn làm ‘lao động cải tạo’.
Câu hỏi này làm cậu bé bí lời, đành dọa: “Thì làm lao động cải tạo là phải gánh đá, cứ gánh mãi, gánh mãi, hiểu không?”
Cô bé hiểu rồi, gánh đá mãi là sẽ c.h.ế.t người.
Cha của cô bé lúc chui hầm than ở Thán Sơn bị sập hầm, mãi mãi không về nữa.
Nhưng cô bé cảm thấy, gánh đá vẫn tốt hơn một chút. Bác dượng và mọi người đi gánh đá đều sống sót trở về mà.
Cô bé nói: “Nhưng không làm lao động cải tạo thì cũng vẫn phải gánh đá mà?”
Hai đứa trẻ vừa đi vừa nói chuyện, hướng về phía tòa kiến trúc hùng vĩ đứng sừng sững bên bờ sông Trúc Tử. Đường đi của chúng khác với đường của những người gánh đá. Người gánh đá phải mang đá ra bãi sông đang đắp đê, còn hai đứa trẻ thì đến chỗ đổi lương thực của nhà tù Cửa Sông Bồ, hai nơi cách nhau sáu bảy dặm đường.
Cô bé không tò mò về chuyện đắp đê, chỉ mải mê nhìn tòa nhà hình vuông khổng lồ. Khi đứng gần trước tòa kiến trúc ấy, phản ứng đầu tiên của cô bé là: Cao quá!
Bức tường bao cao sáu bảy mét cùng bốn tháp canh cao v.út tựa như một người khổng lồ đứng sừng sững trước mặt. Cách đó không xa, những dân binh cầm s.ú.n.g đứng gác, ánh mắt sắc như chim ưng cảnh giác nhìn chằm chằm vào những người mang d.ư.ợ.c liệu đến đổi lương thực như hai anh em, cảm giác áp bức vô cùng lớn!
Cô bé bám c.h.ặ.t lấy anh trai, bàn tay nhỏ đen nhẻm như chân gà túm c.h.ặ.t lấy vạt áo vải bố của cậu bé. Cả hai xếp hàng tại điểm đổi lương thực, chờ đợi người phía trước kiểm tra d.ư.ợ.c liệu, cân ký và đổi đồ.
Người mang d.ư.ợ.c liệu đến đổi lương thực như hai đứa trẻ rất nhiều, nhưng đông hơn cả là những người làm công gánh đá, đắp đê ở Cửa Sông Bồ. Những người gánh đá kiếm được nhiều công điểm nhất, đổi được nhiều lương thực nhất, thường dùng bao tải gai đựng đầy một gánh rồi quẩy đi.
Điểm đổi đồ không nằm ở cổng chính nơi giam giữ phạm nhân, mà ở một cái cửa nhỏ phía sau, nơi nhân viên hậu cần Bồ Cửa Sông thường đi lại. Trước cửa có sáu bảy dân binh cầm s.ú.n.g đứng thẳng tắp, cùng vài nhân viên hậu cần. Trên tay họ cầm một cái cân lớn, bên cạnh là từng bao tải lương thực: có gạo tấm lẫn cám, khoai lang đỏ, miến, đậu nành khô, và từng sọt bánh bã khoai lang phơi khô.
Hiện tại đang là mùa thu hoạch khoai lang. Ở đây hầu như nhà nào cũng có hầm chứa, khoai lang thu hoạch xong còn dính bùn đất tươi được đổ cả xuống hầm, có thể bảo quản khoảng nửa năm không hỏng. Nếu để lâu hơn, khoai lang sẽ thối hoặc nảy mầm. Vì thế, để bảo quản lâu dài, ngoài một phần nhỏ để ăn hàng ngày, số khoai lang còn lại đều được đem đi nghiền lấy bột làm miến.
Sau vụ lúa đầu tiên, toàn bộ ruộng đồng ở Bồ Cửa Sông đều trồng khoai lang và đậu nành. Hàng triệu cân khoai lang thu hoạch về, nếu không làm thành bột khoai lang (miến) thì không thể bảo quản nổi. Sau khi lọc bột xong, bã khoai lang được dùng một phần trộn với rong tiểu cầu và bèo tây làm thức ăn cho heo. Những người đến gánh đá thấy Bồ Cửa Sông có nhiều bã khoai lang như vậy, tiếc rẻ lương thực, bèn hỏi nhân viên hậu cần xem có thể cho họ một ít không.
Nếu là Hứa Minh Nguyệt, có lẽ cô đã cho không rồi. Nhưng nhân viên hậu cần ở đây đa phần là dân chạy nạn đến từ đợt hạn hán ba năm trước. Đối với họ, bã khoai lang cũng là lương thực, sao có thể cho không? Sau khi xin ý kiến Hứa Minh Nguyệt, họ đem bã khoai lang đóng bánh phơi khô, để vào sọt tre và dùng nó làm vật phẩm trao đổi.
Bánh bã khoai lang là loại rẻ nhất trong số các loại lương thực có thể đổi. Có khi một giỏ thảo d.ư.ợ.c không tên cũng đổi được cả một sọt bánh bã khoai. Loại bánh này phơi khô khốc, chỉ cần bẻ một miếng bỏ vào nồi đất nấu với nước sôi là thành một nồi cháo bã khoai. Có một bát cháo nóng hổi xuống bụng, tuy không chắc dạ nhưng cũng không lo bị c.h.ế.t đói.
Vì thế, đa số người đến đổi lương thực đều chọn đổi một bao tải bánh bã khoai mang về. Thứ này nhẹ, không nặng cân, xách tay là được. Đem về trộn với rau đậu, gạo tấm cám nấu chung là được một nồi cháo to đặc sệt, đủ cho cả nhà ăn một bữa.
Dòng người xếp hàng cứ nhích dần về phía trước. Dù có sáu bảy nhân viên làm việc – người kiểm tra d.ư.ợ.c thảo, người cân, người chuyên dùng gáo hồ lô đong lương thực – nhưng tốc độ vẫn chậm chạp vì tiếng ồn ào, cãi cọ, mặc cả xin thêm bớt một chút lương thực.
Chẳng bao lâu sau thì đến lượt hai anh em.
Hai đứa không phải là những đứa trẻ duy nhất ở đây. Có rất nhiều trẻ em và người già giống như chúng, phần lớn là người già dắt theo trẻ nhỏ, rất hiếm thấy phụ nữ trẻ.
Người trong núi đều sợ phụ nữ ra ngoài, thấy cuộc sống bên ngoài tốt đẹp lại không muốn quay về hoặc bỏ trốn, nên họ không muốn cho phụ nữ trong nhà đi ra.
Trước mặt hai đứa trẻ là một chiếc bàn gỗ dài. Đứng sau bàn là một người phụ nữ trung niên khoảng hơn 50 tuổi. Bà ấy nói giọng phổ thông hoàn toàn khác với tiếng địa phương: “Đặt lên bàn đi.”
Cô bé tò mò ngẩng đầu nhìn người phụ nữ xa lạ, khác hẳn những người cô từng gặp. Cô bé không biết diễn tả cảm giác đó thế nào, nhưng cứ nhìn chằm chằm không chớp mắt.
Người phụ nữ kiểm tra sơ qua giỏ thảo d.ư.ợ.c của chúng.
Cậu bé rất lo lắng, vì thảo d.ư.ợ.c trong giỏ sơ chế chưa được tốt lắm, sợ bác sĩ sẽ ép giá khiến đổi được ít lương thực.
Nữ bác sĩ bới bới vài cái, kiểm tra xong liền đổ vào rổ cân bên cạnh, bảo chúng sang chỗ người cân hàng xếp hàng. Người cân hàng nhanh ch.óng cân xong và báo trọng lượng. Một người phụ nữ khác ngồi trước bàn xé ngay một tờ phiếu giống như phiếu gạo, đóng dấu lên đó rồi bảo chúng sang khu vực bên cạnh đổi lương thực.
Người phụ trách đổi lương thực cũng là hai người phụ nữ bận rộn. Dù đang là mùa thu đông, trán họ vẫn lấm tấm mồ hôi. Động tác của họ rất nhanh nhẹn, giọng nói cũng rất to, và cũng dùng một loại giọng giống người miền Bắc chứ không phải tiếng địa phương, hỏi: “Muốn đổi cái gì?”
Cậu bé vội vàng nói: “Gạo tấm cám và một sọt bánh bã khoai lang!”
Gạo tấm cám (trấu mễ) là loại gạo bị vỡ vụn khi xay xát, còn lẫn nhiều cám và vỏ trấu.
Ở kiếp trước của Hứa Minh Nguyệt, loại gạo tấm lẫn cám này là thức ăn cho gà, cho heo. Nhưng ở thời đại này, đó lại là lương thực cứu mạng cho những người sống trong núi sâu. Vì ruộng đất trong núi ít, hiếm khi trồng được lúa nước, chủ yếu chỉ trồng lúa mì vụ đông và khoai lang. Dù khoai lang sản lượng cao nhưng với diện tích canh tác ít ỏi, người trong núi vẫn thiếu ăn, thậm chí họ không dám xa xỉ đem khoai lang đi làm miến như người bên ngoài.
Cô bé lần đầu theo anh ra ngoài đổi lương thực, cái gì cũng không hiểu. Khi người ta hỏi muốn đổi gì, cô bé chỉ biết nhìn anh. Cậu bé vội kéo tay em nhắc: “Đổi gạo tấm cám và bánh bã khoai, hai thứ này đổi được nhiều nhất!”
Cô bé vội vàng dùng giọng địa phương đặc sệt lặp lại. Giọng “nhà quê” đến mức hai người phụ nữ đã sống ở Cửa Sông Bồ mấy năm suýt nữa không nghe ra, phải hỏi lại lớn tiếng: “Gạo tấm cám, bánh bã khoai lang à!”
Khi cô bé cất tiếng, hai người phụ nữ mới nhận ra đứa trẻ gầy như que diêm, đen nhẻm, đầu tóc cắt ngắn cũn cỡn, chỉ có đôi mắt to sáng ngời kia là một bé gái.
Họ bật cười, khi đong bánh bã khoai lang còn cố tình bỏ thêm mấy miếng vào giỏ tre cho cô bé, rồi xách ra giúp cô bé đeo lên lưng: “Bánh bã khoai thì nhẹ, nhưng chỗ gạo tấm cám này cháu có xách nổi không đấy?”
Trong gạo tấm cám tuy có gần một nửa là cám vụn, nhưng lượng tấm gạo cũng không ít. Dù chỉ năm sáu cân nhưng với đứa trẻ nhỏ như cô bé thì cũng khá tốn sức.
Cô bé nhận lấy bao gạo tấm, ôm c.h.ặ.t vào trong lòng.
Người phụ nữ sợ đè sập thân hình bé nhỏ của cô bé, bèn giúp xách đặt sang một bên, hỏi: “Hai đứa mấy tuổi rồi?”
Cậu bé trả lời thay em: “Cháu mười tuổi, em cháu tám tuổi ạ!”
Người phụ nữ nói oang oang: “Tám tuổi à? Thế là đi học được rồi! Đại đội Lâm Hà ở bờ bên kia Thán Sơn, các cháu biết không? Sang năm trường tiểu học Ven Sông khai giảng, tất cả trẻ con từ bảy đến mười lăm tuổi đều có thể đi học!” Bà ấy thuận miệng hỏi thêm: “Cha mẹ các cháu đâu? Nếu muốn đi học thì bảo cha mẹ đưa đi báo danh nhé!”
Người phụ nữ nhìn hai đứa trẻ rồi bổ sung một câu quan trọng: “Trẻ con trong núi đi học không mất tiền, miễn phí! Bé gái đi học mỗi tháng còn được phát năm cân gạo tấm cám!”
Mắt cô bé vụt sáng lên.
Cậu bé sốt ruột hỏi: “Còn cháu thì sao? Cháu đi học được phát mấy cân?”
Trong tiềm thức giáo d.ụ.c từ nhỏ đến lớn của cậu, con trai luôn quý giá hơn, con trai đáng giá hơn con gái.
Nhiều bé gái trong núi khi sinh ra đã bị vùi lấp bên đường, bị dìm c.h.ế.t trong hố phân, hoặc bị ném vào rừng làm mồi cho thú dữ.
Số bé gái có thể sống sót lớn lên rất ít.
Nếu bé gái đi học mỗi tháng được phát năm cân gạo, cậu bé phản xạ tự nhiên nghĩ rằng nếu mình đi học, chắc chắn sẽ được phát nhiều hơn!
Người phụ nữ liếc nhìn cậu bé, phất tay nói: “Con trai á? Con trai không cho gạo vẫn có khối người đi học, đòi gạo cái gì? Con trai không có!”
Cậu bé có chút sốt ruột. Tại sao con gái đi học lại có gạo phát, còn cậu là con trai đi học lại không có? Nhưng dù sao đi nữa, có gạo phát là chuyện tốt. Đặc biệt là từ khi cậu ruột mất trong hầm than ở Thán Sơn, chỉ còn lại mợ nuôi các em , trong nhà thiếu đàn ông kiếm tiền, ruộng ít, lương thực thiếu, cuộc sống rất khó khăn.
Cậu bèn thay em họ hỏi: “Trường tiểu học Ven Sông ở đâu ạ? Khi nào thì đi học? Chỉ cần là con gái đi học là được phát gạo sao?”
Người phụ nữ bị hỏi dồn cũng không khó chịu, lớn tiếng đáp: “Phải là bé gái từ bảy đến mười lăm tuổi, đến học là được cấp gạo. Đã bảo là sang năm mới đi học, qua rằm tháng Giêng, ngày mười sáu tháng Giêng khai giảng. Trường ở thôn Hứa gia, đại đội Lâm Hà, ngay đối diện Thán Sơn. Đại đội Lâm Hà các cháu biết không? Nếu không biết thì ra ngoài núi hỏi thăm, cứ hỏi thôn Hứa gia đại đội Lâm Hà là người ta biết!”
Rất nhiều người đến dùng công điểm gánh đá hoặc d.ư.ợ.c thảo đổi lương thực nghe thấy tin đại đội Lâm Hà mở trường học, trẻ con được đi học, đều rất vui mừng. Đặc biệt là những người lần đầu nghe tin này đều nhao nhao hỏi: “Tại sao con trai không được cấp gạo? Nếu con trai cũng được cấp gạo thì chúng tôi cho đi học ngay!”
Người phụ nữ vừa nghe thấy thế liền không vui, mặt sa sầm xuống: “Có đi hay không tùy các người! Được đi học miễn phí mà còn kén cá chọn canh, tưởng người ta cầu xin các người đi học chắc? Chẳng qua là trường mới mở, ba năm đầu không thu học phí, chứ sau này đi học đều phải đóng tiền cả đấy! Các người không ra ngoài mà hỏi thăm xem, ở đâu có chuyện tốt như vậy, cho đi học miễn phí, thuê thầy giáo về dạy cũng phải trả lương chứ!”
Cũng nhờ đại đội Lâm Hà khai hoang thêm được hơn 7000 mẫu ruộng tốt, không thiếu lương thực, lại thêm công xã Thủy Phụ nổi tiếng là công xã giàu có và đông đúc, hai vị lãnh đạo công xã đều xuất thân từ đại đội Lâm Hà nên mới ưu ái quê nhà như vậy. Nếu không thì lấy đâu ra chuyện đi học miễn phí? Bao nhiêu năm nay, trừ các lớp xóa mù chữ, đây là lần đầu bà ấy nghe thấy chuyện học lấy cái chữ đã miễn phí lại còn được tặng gạo.
Người phụ nữ không khỏi nghĩ đến chủ nhiệm của mình. Cũng vì chủ nhiệm là phụ nữ, thấu hiểu nỗi khổ của phụ nữ nên mới thương xót cho hoàn cảnh các bé gái, ra chính sách đi học được tặng gạo tấm cám như vậy.
