Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 245:-------
Cập nhật lúc: 05/01/2026 12:48
Tầng một có mười bốn phòng học. Hiện tại chỉ có khoảng mười phòng là có đủ bàn ghế, trong đó sáu phòng dùng để dạy học, bốn phòng còn lại thì kê bàn lại với nhau làm ký túc xá nam tạm thời.
“May mà cháu lo được chỗ chăn này, chứ không thì trời lạnh thế này, đám nhóc con không chăn đắp, c.h.ế.t cóng cả lũ!” Ông trưởng thôn than thở. Ông đâu ngờ làm hiệu trưởng lại lắm việc đến thế, mở mắt ra là thấy cả đống việc chờ giải quyết, làm mãi không hết.
Ông trưởng thôn nói tiếp: “Vẫn là cháu lúc trước chu đáo, xây sẵn giường sưởi, lót thêm ít rơm rạ là ngủ được. Nhưng mới năm đầu mà đã đông học sinh thế này, hai phòng ký túc xá làm sao đủ?” Ông chỉ tay về phía sáu phòng học đối diện ký túc xá ở tầng một: “Mấy phòng học bên đó cũng đang để trống, phải xây thêm mấy cái giường sưởi nữa mới được, không thì trời lạnh quá, bọn trẻ chịu không nổi!”
Chăn bông Hứa Minh Nguyệt làm mới (reset) từ trong xe chỉ nặng năm cân, thuộc loại chăn dùng cho mùa xuân thu. Dù là chăn mới nhưng vào mùa đông vẫn chưa đủ ấm, nhưng nếu kết hợp với giường sưởi thì lại vừa vặn.
Hứa Minh Nguyệt thấy ông trưởng thôn mấy ngày nay vất vả quá, liền đề nghị: “Nhân lực vẫn còn ít quá, phải tuyển thêm vài giáo viên nữa ạ.”
Ông trưởng thôn nghe vậy cau mày, mắng: “Đám trẻ các cô cậu đúng là không biết tiết kiệm. Mới dư dả được mấy năm mà đã lãng phí lương thực, lãng phí tiền bạc thế à? Sao lại không đủ nhân lực?” Ông chỉ vào đám trẻ lớn mười bốn, mười lăm tuổi: “Để bọn lớn trông bọn bé. Chúng nó được ăn ở miễn phí ở đây, chẳng nhẽ không làm được chút việc?”
Ông trưởng thôn quả không hổ danh từng làm trưởng thôn. Sau nửa tháng đầu luống cuống tay chân, ông đã nhanh ch.óng bắt nhịp với guồng quay của trường học. Ngày đông không thể chạy bộ tập thể d.ụ.c buổi sáng, ông bèn phân công trực nhật luân phiên hàng tuần. Trực nhật làm gì ư? Nấu cơm, quét dọn vệ sinh, cuốc đất.
Địa điểm xây trường là một bãi đất bằng phẳng rất rộng ở cuối thôn Hứa gia, vốn là sân đập lúa. Diện tích rộng mênh m.ô.n.g, nhưng chỉ có khoảng bốn năm mẫu ở giữa là được san phẳng để đập lúa và phơi thóc vào mùa vụ. Xung quanh vẫn còn nhiều đất trống bỏ hoang cỏ mọc um tùm.
Ông trưởng thôn dẫn đám học sinh lớn bé đi khai hoang hết những góc đất thừa quanh trường, tính trồng thêm rau dưa, hoa trái.
Nguyên văn lời ông trưởng thôn là: “Mười bốn mười lăm tuổi đầu, ở nhà đã là nửa lao động chính rồi, sao lại không làm được việc? Đến đây là để học, chứ không phải để hưởng phúc!”
Với sự sắp xếp của ông trưởng thôn, Hứa Minh Nguyệt không có ý kiến gì.
Phải nói là, với lời nói của mấy giáo viên trẻ, một số học sinh còn chẳng thèm nghe, thậm chí nảy sinh thói “bát cơm ân, đấu gạo thù”, coi việc nhà trường nuôi ăn ở miễn phí là điều hiển nhiên. Nhưng hễ ông trưởng thôn xuất hiện, cả đám im thin thít không dám ho he, bảo gì làm nấy.
Hứa Minh Nguyệt biết ngay, cách làm của ông trưởng thôn mới là đúng đắn.
Chờ khi thời tiết ấm lên một chút, ông trưởng thôn ngày nào cũng giám sát bọn trẻ dậy sớm chạy bộ: nhóm 7-8 tuổi chạy hai vòng, nhóm 9-10 tuổi chạy ba vòng, nhóm trên 10 tuổi chạy bốn vòng.
Ông trưởng thôn lớn tuổi nên ngủ ít. Ở đây buổi tối chẳng có hoạt động giải trí gì nên ngủ sớm, sáng nào ông cũng tỉnh dậy từ 5 giờ. Làm trưởng thôn bao năm, rồi nhàn rỗi bao năm không nắm quyền, giờ đột nhiên được làm hiệu trưởng, ông hừng hực khí thế. Sáng sớm tinh mơ nào ông cũng chống gậy trúc đứng giám sát ở sân thể d.ụ.c, đứa nào dám lười biếng là ông quất gậy vào m.ô.n.g ngay.
Có ông hiệu trưởng già trừng mắt nhìn, chẳng đứa nào dám lười. Ngay cả các thầy cô giáo thanh niên trí thức cũng bị cái uy nghiêm túc của ông làm cho căng thẳng, đành phải chạy theo học sinh.
Vừa chạy vừa ngâm thơ của lãnh đạo!
Trong đó, người chạy dẫn đầu chính là A Cẩm!
Tuyển tập thơ lãnh đạo cô bé thuộc làu làu!
Chưa đi mẫu giáo, mẹ cô bé mỗi ngày đ.á.n.h răng cho cô bé đều dùng thơ thay cho việc đếm “một hai ba bốn” để luyện tai. Chưa đi học mà cô bé đã thuộc lòng 300 bài thơ Đường, bao gồm cả những bài thơ nổi tiếng của vị lãnh đạo vĩ đại.
Thế là trên sân thể d.ụ.c xuất hiện cảnh tượng: dẫn đầu là một cô bé con con, chạy như bay bỏ xa mọi người, vừa chạy vừa hô to: “Bắc Quốc phong quang!”
Đám trẻ lúc nhúc phía sau như cái đuôi cũng hô theo: “Bắc Quốc phong quang!”
A Cẩm hô bằng tiếng phổ thông, bọn trẻ cũng học theo tiếng phổ thông.
Ban đầu, mấy đứa trẻ lớn thấy A Cẩm bé tí mà chạy nhanh thế, cũng hiếu thắng đuổi theo chạy cùng.
Phần lớn chúng là trẻ con trong núi, ngày ngày leo trèo nên thể lực và sức bền đều tốt. Một vòng, hai vòng, ba vòng...
Chạy được vài vòng, đám trẻ suy dinh dưỡng này làm sao đọ lại được với A Cẩm được Hứa Minh Nguyệt chăm chút từ nhỏ? Chẳng mấy chốc từng đứa rớt lại phía sau, chỉ còn một mình cô bé vẫn hăng hái chạy băng băng phía trước!
Khi còn ở đội tuyển bơi lội của trường, A Cẩm được đặt biệt danh là “Tiểu pháo đài”, ý nói thể lực cô bé cực kỳ sung mãn, động cơ cực khỏe, tập luyện suốt hai tiếng đồng hồ từ đầu đến cuối không nghỉ mà tốc độ vẫn duy trì rất nhanh.
Đương nhiên, đây là chuyện thường tình ở đội bơi lội chuyên nghiệp, các vận động viên tuyến một đều như thế. Nhưng trong khi nhiều đồng đội tập xong mệt muốn khóc, A Cẩm vẫn cười hì hì, trông vẫn tràn trề năng lượng.
Xuyên không đến đây mấy năm nay, A Cẩm chưa bao giờ ngừng rèn luyện thể lực, ngày nào cũng kiên trì tập luyện.
Huấn luyện viên kiếp trước mặt mũi đã mờ nhạt trong trí nhớ, nhưng những bài tập thể lực thầy dạy thì bao năm qua cô bé vẫn thực hiện tỉ mỉ không bỏ sót ngày nào. Mùa hè mỗi ngày cô bé đều duy trì bơi từ 6000 đến 9000 mét.
A Cẩm thể lực tốt, sức bền cao, nhưng không có nghĩa là cô bé chạy bộ cũng giỏi. Chân của trẻ tập bơi và trẻ tập điền kinh chuyên nghiệp không giống nhau. Ai từng xem các vận động viên bơi lội Olympic đi lại sẽ nhận ra, bàn chân của họ bẹt như chân vịt, cổ chân cũng bị ảnh hưởng do cách phát lực khi bơi, điều này tác động đến dáng chạy.
A Cẩm chạy xong bốn vòng vẫn muốn chạy tiếp, nhưng bị Hứa Minh Nguyệt gọi lại bắt đi giãn cơ. Cô bé ngoan ngoãn nghe lời.
Tuy nhiên, nhờ vụ chạy bộ này mà toàn bộ học sinh mới trong trường đều biết mặt A Cẩm. Đặc biệt khi nghe nói cô bé là con gái của Chủ nhiệm Tiểu Hứa ở nông trường cải tạo Cửa Sông Bồ, chúng nhìn cô bé như nhìn người ngoài hành tinh, muốn lại gần nhưng lại không dám.
“Nó nói tiếng ‘thiên thái’ kìa!”
“Thiên thái” trong tiếng địa phương mang ý nghĩa xấu, ám chỉ việc bắt chước giọng người ngoài một cách kệch cỡm.
“Không phải ‘thiên thái’, nó nói tiếng phổ thông đấy, tiếng phổ thông mày có biết không?” Ngay lập tức có trẻ con thôn Lâm Hà phản bác lại.
Đứa bé kia thấy mình nói xấu sau lưng bị bắt quả tang, có chút ngượng ngùng, che miệng lắc đầu.
Trẻ con thôn Lâm Hà đắc ý giải thích cho chúng: “Mấy thầy cô thanh niên trí thức nói gì các cậu biết không? Chính là tiếng phổ thông đấy! Yên Kinh các cậu biết không? Là thủ đô! Chủ tịch vĩ đại ở Yên Kinh nói tiếng đó! Tiếng phổ thông đấy!”
Đám trẻ con trong núi được phổ cập kiến thức thì ngớ người ra, nhìn A Cẩm với ánh mắt sùng bái!
Những điều này đều do Hứa Minh Nguyệt dạy cho A Cẩm. Có khi A Cẩm nói tiếng phổ thông với Mạnh Phúc Sinh bị trẻ con khác nghe thấy chê là “thiên thái”, cô bé liền mang những kiến thức này ra phổ cập lại cho chúng.
Đám trẻ vừa nghe cô bé biết nói tiếng thủ đô, biết nói ngôn ngữ của Chủ tịch vĩ đại, thái độ khinh thường lập tức chuyển sang sùng bái. Chúng còn âm thầm học theo cô bé, cô bé nói câu gì là chúng lẩm nhẩm nhớ kỹ, về nhà lén tập nói. Lúc tập còn ngượng ngùng, sợ bị người khác biết mình nói “tiếng phổ thông” lại bảo là “thiên thái”.
Rõ ràng học nói tiếng phổ thông là chuyện tốt, nhưng luôn có một số người hùa nhau dùng lời lẽ miệt thị, ánh mắt chế giễu để cười nhạo người khác.
Nhưng ở trường tiểu học Ven Sông, mấy thầy cô giáo thanh niên trí thức miền Bắc đều nói tiếng phổ thông. Họ không biết nói tiếng địa phương, cũng không hiểu tiếng địa phương. Học sinh trong lớp muốn thầy cô hiểu mình nói gì, muốn đề đạt nguyện vọng thì buộc phải học ngôn ngữ của thầy cô.
Thực tế, khi thấy A Cẩm dùng tiếng phổ thông giao lưu tự nhiên, trôi chảy với các thầy cô thanh niên trí thức, bọn trẻ rất ngưỡng mộ. Trong thâm tâm chúng cũng mong mình được oai như A Cẩm, hy vọng một ngày nào đó người có thể nói chuyện đĩnh đạc bằng tiếng phổ thông với thầy cô chính là mình.
Chờ trời ấm lên chút nữa, không cần lúc nào cũng ru rú trong ký túc xá có giường sưởi, các thầy cô mới dẫn học sinh đến lớp học. Dựa theo chiều cao đã sắp xếp lúc chạy bộ, các em được thầy cô dẫn vào từng chỗ ngồi, mỗi chỗ ngồi đều dán sẵn tên của mình.
Các em không biết chữ không sao, thầy cô biết là được.
Tên một số em dùng tiếng địa phương không viết ra được chữ Hán, thầy cô nghe mãi không hiểu bèn dùng cách phiên âm để đặt lại tên mới cho các em. Điều này dẫn đến việc nhiều em ngơ ngác nhìn thầy cô, không biết thầy cô đang gọi mình.
Không biết tên mình cũng không sao, nhớ chiều cao của mình là được: “Hai em là một cặp, em nhớ là ngồi cùng bàn với bạn này là được, bạn ở đâu em ở đó!”
Những câu như thế này được nhắc đi nhắc lại với bọn trẻ: “Từ hôm nay trở đi, tên em là Triệu Trung Hoa! Trung Hoa trong Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa!”
Thầy cô ấn từng đứa trẻ ngồi xuống ghế, chỉ vào cái tên và mã số học sinh dán ở góc bàn: “Thấy chưa? Em tên là Triệu Thanh Sơn. Triệu Thanh Sơn là tên của em. Nếu em thực sự không nhớ được tên mình thì nhớ lấy số này, số 24!”
Lũ trẻ ngồi vào bàn học mới tinh, sờ đông ngó tây, m.ô.n.g cứ ngọ nguậy trên ghế dài.
Đám nhỏ tuổi nhất ngồi trên ghế dài, chân treo lơ lửng không chạm đất, cứ tò mò ngó nghiêng. Ngó một hồi, chúng phát hiện dưới mặt bàn còn có ngăn kéo, trong ngăn kéo nào cũng có sách và vở.
Sách là do hiệu sách công xã gửi tặng để lấy lòng, vở là do Hứa Minh Nguyệt tích cóp trong không gian xe bao năm nay. Vở của A Cẩm trước đây, cùng với b.út chì cũng là đồ được làm mới (reset) từ trong xe của Hứa Minh Nguyệt.
Tuy nhiên b.út chì không được phát ngay. Chỉ khi nào cần viết chữ, thầy cô mới phát b.út chì đồng loạt, viết xong lại thu về.
Do không có điện, ánh sáng trong ký túc xá rất tối nên sau khi tan học về ký túc xá, học sinh không cần làm bài tập. Mọi bài tập đều hoàn thành ngay tại lớp.
Lúc này, những gì chúng học cũng chỉ là mười con số từ 0 đến 9, và bảng chữ cái a, o, e mà thôi.
Trên mỗi cuốn sách đều ghi tên họ, mã số học sinh và lớp tương ứng.
Tôn Tiểu Thảo lần đầu tiên cầm được cuốn sách, cô bé đặt lên bàn, cứ nhìn chằm chằm mãi, không dám đưa tay sờ vì sợ bàn tay đen nhẻm của mình làm bẩn sách.
Mãi đến khi tan học, ông anh họ học lớp Một Ba đến tìm cô bé đi ăn cơm, cô bé vẫn còn nhìn cuốn sách trên bàn đầy vẻ không tin, nói với cậu bé: “Anh Cả, đây là sách đấy!”
Cậu bé cũng thấy thật kỳ diệu, ưỡn n.g.ự.c tự hào: “Bây giờ anh tên là Triệu Thanh Sơn!”
Tôn Tiểu Thảo cũng chỉ vào cái tên viết trên sách của mình, cười toét cái miệng sún hai cái răng cửa: “Anh Cả, em tên là Tôn Huyên Thảo.” Cô bé chỉ vào chữ “Huyên” ở giữa tên mình, “Huyên, thần huyên huyên!” (Thần tiên).
Cô bé cười hì hì: “Anh Cả, Huyên Thảo có phải là cỏ mọc trên trời không?”
Cậu bé cũng lơ mơ: “Cô giáo bảo là Huyên Thảo, thế chắc là cỏ thần tiên (xuan) rồi. Đi nhanh lên, lát nữa hết cơm bây giờ!”
Cậu bé kéo tay cô em họ chạy về phía nhà ăn.
Thức ăn ở nhà ăn trường học thực ra cũng chẳng ngon lành gì, chỉ là cháo gạo tấm cám nấu loãng ăn với đậu đũa muối, nhưng được cái cháo nấu đặc, đậu đũa có vị mặn. Mỗi đứa trẻ được phát một bát tre mỗi bữa, ăn xong là hết, không có bát thứ hai. Lần nào chúng cũng l.i.ế.m bát sạch bong, đỡ tốn công rửa, nhưng dù l.i.ế.m sạch đến đâu thầy cô vẫn bắt chúng phải mang đi rửa lại!
A Cẩm chỉ ăn ở nhà ăn trường một lần rồi thôi, tan học nếu không về nhà ăn thì sang nhà bác Cả ăn.
Mãi đến một tháng sau, tuyết tan hết, trời không còn lạnh nữa, trường tiểu học Ven Sông mới coi như chính thức đi vào nề nếp, bắt đầu ngày ngày lên lớp, tan học đúng giờ.
Nhưng lại nảy sinh một vấn đề: không có chuông báo hết giờ.
Ông trưởng thôn vất vả lắm mới tìm được một cái lưỡi cày gãy gỉ sét trong kho nhà mình, buộc dây treo lên hành lang tầng hai khu phòng học. Không có đồng hồ, ông bèn nhờ Hứa Kim Hổ kiếm từ Ngô Thành về một chiếc đồng hồ báo giờ.
Chiếc đồng hồ báo giờ này là hàng độc nhất vô nhị của cả đại đội, là cục cưng, là bảo bối trên tay ông trưởng thôn... à không, giờ phải gọi là ông hiệu trưởng già. Ông hiệu trưởng không cần dạy học, nhiệm vụ chính là quản lý kỷ luật! Và quản lý giờ giấc lên lớp, tan học.
