Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 246:------
Cập nhật lúc: 05/01/2026 12:49
Ông có một phòng làm việc riêng ở tầng hai. Ngày nào ông cũng chăm chăm nhìn vào cái đồng hồ báo giờ trong phòng. Mỗi tiết học kéo dài 40 phút, nghỉ giải lao 10 phút. Sau hai tiết học đầu sẽ có một giờ ra chơi lớn, và giờ ra chơi lớn này chẳng làm gì khác ngoài việc chạy bộ!
Ông hiệu trưởng già rất tích cực. Cứ đến giờ vào lớp, ông lại cầm thanh sắt gõ boong boong vào cái lưỡi cày gãy, tiếng vang thanh thúy truyền khắp sân trường.
Nếu tiếng kẻng không truyền được đến hết mọi ngóc ngách cũng chẳng sao. Ông thường gõ mười tiếng, sau đó đứng trên hành lang tầng hai nhìn xuống. Hễ thấy học sinh lớp nào chưa vào phòng học mà còn lởn vởn chơi dưới sân, ông lập tức giơ thanh sắt to tướng lên, chỉ tay quát: “Đứa kia lớp nào? Chuông vào lớp reo rồi mà điếc à? Sao còn chưa chịu vào lớp, đứng đấy làm cái gì?”
Nghe giọng oang oang của ông hiệu trưởng, mấy đứa trẻ đang lững thững dưới sân lập tức co giò chạy như bị ch.ó đuổi, nhanh hơn cả thỏ, phi thẳng vào lớp.
Nếu bị ông tóm được thì ông đ.á.n.h thật chứ chẳng chơi. Thanh nứa dài to bằng hai ngón tay quất vào m.ô.n.g, đau điếng người nhưng không gây thương tích nặng.
Ai cũng sợ ông hiệu trưởng già.
Hiện tại sân thể d.ụ.c trống huơ trống hoác, chỉ có mỗi đường chạy. Hứa Minh Nguyệt đề xuất nên trang bị ít dây nhảy, kẻ ô lò cò để học sinh giải trí trong giờ ra chơi, nhưng bị ông hiệu trưởng gạt phắt.
“Chơi bời cái gì? Chúng nó đến đây để học chứ không phải để chơi! Có thời gian rảnh thì đi cuốc thêm mấy luống đất trồng rau cho tôi!”
Trường học không có tiết thể d.ụ.c, chỉ có tiết lao động!
Trường học 6 ngày một tuần, nghỉ 1 ngày. Nhưng ngay cả ngày nghỉ này, học sinh cũng không được về nhà, không được chơi. Dưới sự hướng dẫn của thầy cô, chúng phải tắm rửa, gội đầu, giặt quần áo, quét dọn vệ sinh. Thời gian còn lại thì đi đào rau dại, bón phân cho rau củ quả do chính mình trồng.
Chỉ đến cuối tháng mới được nghỉ hai ngày để học sinh nội trú về nhà, tiện thể mang số gạo tấm cám được phát về theo.
Đây cũng là ý của ông hiệu trưởng. Ông chỉ vào đám thiếu niên mới lớn, nói: “Mấy đứa nhỏ thì thôi, chứ đám lớn tồng ngồng kia, nhiều đứa mười bốn mười lăm tuổi rồi, hai năm nữa là lấy vợ gả chồng cả. Cô tưởng chúng nó ở lại trường được bao lâu? Không tranh thủ lúc này học lấy cái chữ thì ra đời còn cơ hội nào mà học? Chơi ư? Chúng nó làm gì có thời gian mà chơi?”
Lời này không chỉ dành cho con gái mà con trai cũng vậy. Chúng ở trường được hai năm, biết mặt chữ rồi cũng phải về lấy vợ sinh con, trở thành trụ cột gia đình, lao động chính trong nhà.
“Kể cả mấy đứa nhỏ, cháu tưởng chúng nó được đi học mấy năm? Lên mười tuổi là phải ở nhà chăn trâu, trồng rau rồi.”
Trẻ con nông thôn năm sáu tuổi đã theo ông bà đi chăn trâu rồi.
Hứa Minh Nguyệt và đám thanh niên trí thức thành phố không hiểu, nhưng ông hiệu trưởng già biết rõ thời gian của lũ trẻ rất eo hẹp. Chúng không có nhiều thời gian ngồi trên ghế nhà trường, có được cơ hội biết chữ đã là may mắn tày đình rồi.
Ông hiệu trưởng chú trọng nhất là việc giáo d.ụ.c cho con em thôn Hứa gia.
Đại đội Lâm Hà có trường tiểu học, tầng hai lại còn nhiều phòng học trống. Tuy bàn ghế chưa đóng xong nhưng ông chẳng bận tâm. Ông cho kê gạch, đặt ván gỗ lên làm bàn tạm, ghế cũng chẳng cần, cứ lấy nệm hương bồ bện rơm lót ngồi là xong. Ông chuyển luôn lớp xóa mù chữ từ trụ sở đại đội Lâm Hà sang trường tiểu học Ven Sông.
Trưa nào ông cũng lùa đám thanh niên dưới 30 tuổi của thôn Hứa gia đến trường học, nam nữ đều phải đi.
Bốn thôn còn lại là Giang, Thi, Hồ, Vạn thì ông mặc kệ, muốn học hay không tùy ý. Ông chỉ lo cho người thôn Hứa gia, rồi bắt đám thanh niên trí thức thi trượt làm giáo viên dạy miễn phí.
Đúng vậy, giáo viên miễn phí.
Đám thanh niên trí thức làm việc cả ngày mệt bở hơi tai, lại còn phải đi dạy không công, nhưng không đi không được. Ông hiệu trưởng rất biết cách dụ dỗ họ: “Mấy cô cậu không phải giáo viên chính thức nhưng vẫn được ở ký túc xá miễn phí, giờ bảo dạy vài tiết xóa mù chữ thì có sao đâu? Tôi nói cho mà biết, sau này trường tuyển thêm giáo viên, ưu tiên đầu tiên là những người từng dạy lớp xóa mù, có kinh nghiệm giảng dạy đấy!”
Nghe thế, đám thanh niên trí thức dù mệt đến mấy cũng không dám bỏ bê lớp xóa mù, thậm chí người này còn tích cực, nhiệt tình hơn người kia, tranh nhau đi dạy.
Chính vì thấm thía nỗi vất vả của việc nhà nông, lại nhìn thấy năm người bạn trúng tuyển làm giáo viên được nhàn hạ, họ càng khao khát công việc này hơn.
Đúng là có so sánh mới thấy hạnh phúc.
Hơn nữa ông hiệu trưởng cũng không phải đang “vẽ bánh vẽ”. Trường tiểu học Ven Sông có nhiều phòng học thế kia, không thể để trống mãi được. Chắc chắn sau này sẽ tuyển thêm học sinh, có học sinh mới ắt cần giáo viên mới. Đã nếm trải sự cực nhọc của ruộng đồng, kỳ thi tuyển giáo viên lần sau chắc chắn sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn nhiều.
Ông hiệu trưởng nhìn khoảng sân thể d.ụ.c rộng lớn giữa trường cũng thấy ngứa mắt. Nếu không phải Hứa Minh Nguyệt ngăn cản, ông đã cho cuốc xới tung cả cái sân lên để trồng rau rồi.
Ông thực sự không hiểu để lại cái sân to đùng thế làm gì. Nếu muốn chạy bộ tập thể d.ụ.c thì ra cái sân đập lúa bên ngoài trường, nền đất được nện c.h.ặ.t bao năm phẳng lì, chạy ở đó chẳng tốt hơn sao? Tâm trí ông lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc trồng trọt!
Nhưng Hứa Minh Nguyệt kiên quyết giữ lại, ông tuy không hiểu nhưng vẫn tôn trọng ý kiến của cô. Theo ý Hứa Minh Nguyệt, ban ngày cổng trường phải đóng kín, người ngoài không được vào, học sinh cũng không được ra, nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho học sinh. Dù sao gần đó là sông lớn, cạnh bên là mương sâu. Ngay cả người dân trong thôn sống ở vùng sông nước, ai cũng biết bơi mà năm nào cũng có một hai người c.h.ế.t đuối. Đám trẻ trong núi này lỡ sẩy chân một cái là mất mạng ngay.
Kể cả khi ra ngoài đào rau dại cũng phải có giáo viên dẫn đoàn chỉ huy, tuyệt đối không được lại gần mép nước.
Một tháng sau, đám học sinh bị “nhốt” trong trường cuối cùng cũng được nghỉ để về nhà. Chỉ vỏn vẹn một tháng nhưng tinh thần diện mạo của lũ trẻ dường như đã thay đổi. Không còn vẻ đờ đẫn, vô hồn như trước, thay vào đó là nụ cười và thần thái tươi tỉnh hơn.
Hứa Minh Nguyệt cứ tưởng trong trường có nhiều đứa lớn bảy tám tuổi, lúc đến được cha mẹ đưa đi thì lúc về ắt hẳn sẽ có người đón. Nhưng cô đã lầm to, hoàn toàn không có phụ huynh nào đến đón. Mấy đứa lớn thì còn đỡ, chứ đám nhỏ thì đứng ngơ ngác trước cổng trường, không biết phải đi đường nào.
Chúng hoàn toàn không biết đường về nhà.
Theo ý ông hiệu trưởng, không biết đường thì khỏi về, hoặc để mấy đứa lớn dắt về là xong, có gì to tát đâu?
Nhưng Hứa Minh Nguyệt dù sao cũng không phải người thời đại này. A Cẩm đi học luôn được cô đưa đón nên cô rất quan trọng vấn đề an toàn của trẻ nhỏ.
Đặc biệt là hồi cô học cấp hai, trường cô từng xảy ra một vụ án chấn động: một nữ sinh lớp 9 trên đường đi học về bị hai bạn học cùng một ông chú độc thân của bạn dụ dỗ đến lò gạch sát hại.
Nữ sinh đó cũng là người ở trong núi ra, con đường em đi học mỗi ngày là đường núi vắng vẻ. Hai kẻ thủ ác lại chính là những người thường ngày đi cùng đường với em.
Vụ việc đó gây chấn động lớn ở trường cô lúc bấy giờ, khiến Hứa Minh Nguyệt đặc biệt chú trọng đến sự an toàn của những đứa trẻ từ trong núi ra, nhất là các bé gái.
Hứa Minh Nguyệt trình bày nỗi lo lắng của mình với ông hiệu trưởng. Ông hiệu trưởng nắm c.h.ặ.t cây gậy gỗ mài nhẵn bóng, khinh khỉnh nói: “Tưởng chuyện gì to tát? Có mỗi thế thôi á?”
Ông gọi ngay ba thầy giáo người địa phương và hai thầy giáo thanh niên trí thức là La Dụ Nghĩa, Trương Thụ Minh, rồi tìm thêm ba người dân trong thôn thông thạo đường núi, giao nhiệm vụ hộ tống học sinh về nhà. Ông cũng ngầm dặn dò: “Đặc biệt chú ý mấy đứa bé gái. Học sinh trường mình, liên quan đến danh tiếng trường tiểu học Ven Sông, đừng để đứa nào bị hại dọc đường!”
Nói chuyện khác thì mấy thầy giáo địa phương còn dửng dưng, chứ đụng đến danh tiếng trường học thì ai nấy đều nghiêm túc hẳn lên. Nhất là mấy người thôn Hứa gia, vỗ n.g.ự.c cam đoan: “Bác trưởng thôn cứ yên tâm, đảm bảo đưa về tận nhà an toàn, thiếu một cọng tóc bác cứ tìm cháu!”
Tám người chia làm bốn nhóm. La Dụ Nghĩa và Trương Thụ Minh mỗi người được ghép với một giáo viên địa phương, nhiệm vụ chính là hộ tống nhóm nữ sinh.
Tất cả học sinh khi về đều phải mặc quần áo cũ của mình. Bộ “đồng phục” vải thô nhà trường phát không được phép mặc về, vì một khi đã mặc về thì rất có thể sẽ biến thành quần áo của người lớn hoặc anh em trai trong nhà, một đi không trở lại.
Các bé gái đặc biệt sợ bộ đồng phục mới để lại trường bị mất trộm. Dù sao đó cũng là bộ quần áo mới đầu tiên trong đời các em, ai nấy đều quý như vàng. Để giữ quần áo, mỗi em một cách: dùng nhựa cây nhuộm ký hiệu lên áo, dùng kim chỉ thêu mã số học sinh, hay thậm chí bôi nhọ nồi đen sì lên áo để đ.á.n.h dấu.
Nỗi lo của các em ở thời đại này không phải là lo bò trắng răng mà là thực tế phũ phàng. Trong thời gian đi học vừa qua, đã không ít lần xảy ra những vụ kiện cáo mất trộm quần áo lên tận ban giám hiệu.
Cái nghèo khiến một số người nảy sinh lòng tham, muốn chiếm đoạt đồ đạc của người khác làm của riêng.
Đáng tiếc là khi về, 5 cân gạo tấm cám được phát ngay tại chỗ nhận gạo ở cổng trường trước lúc lên đường. Giá mà phát sớm hơn thì chắc chắn sẽ còn khối vụ kiện cáo tranh giành gạo nữa.
Đám con trai nhìn các bạn nữ được nhận gạo mà thèm thuồng. Lúc này, chúng cũng ước giá mà mình được phát gạo, hoặc giá mà mình là con gái, hay nhà mình cũng có chị em gái thì tốt biết mấy.
Đa số gia đình chúng không có chị em gái.
Số lượng nữ sinh ít nên việc hộ tống cũng thuận tiện. Đến một số ngã rẽ, năm thầy giáo và ba người dân địa phương để đám con trai tự về, còn họ ưu tiên hộ tống nhóm có nữ sinh. Cuối cùng, sau khi đưa từng em về tận đại đội, họ mới tập hợp lại và cùng nhau quay về. Khi về đến nơi thì trời đã chập choạng tối.
La Dụ Nghĩa và Trương Thụ Minh – hai thanh niên trí thức từ thành phố xuống – sau chuyến đưa học sinh về nhà này mới thấm thía sự mênh m.ô.n.g, sâu thẳm và hiểm trở của ngọn núi lớn này. Họ mới hiểu được việc đi lại trong núi khó khăn thế nào, và cơ hội để một đứa trẻ trong núi, đặc biệt là bé gái, được ra ngoài đi học quý giá và gian nan ra sao.
Cơ hội đi học của các em hoàn toàn phụ thuộc vào 5 cân gạo tấm cám mang về mỗi tháng.
Trên đường về, lòng họ trĩu nặng. Ban đầu họ làm giáo viên chỉ để trốn tránh việc nhà nông nặng nhọc, nhưng giờ đây, chứng kiến con đường cầu học gian nan của học sinh vùng cao, trong đáy lòng họ nhen nhóm một tinh thần trách nhiệm khó tả.
Trương Thụ Minh trước đây tuy cũng xuống nông thôn vùng núi, nhưng đại đội anh ta ở chỉ nằm ngay cửa rừng chứ không phải núi sâu. Đây là lần đầu tiên anh ta cảm nhận được cuộc sống trong sâu thẳm núi rừng.
Về đến nơi, họ kể lại tình hình trong núi cho những người khác trong ký túc xá nghe. Nhưng những người kia chưa từng tự mình trải nghiệm sự gian nan của đường núi nên không cảm nhận sâu sắc được. Niệm tưởng lớn nhất của họ lúc này không phải là giúp đỡ người khác, mà là làm sao để bản thân cũng sớm thi đỗ giáo viên, thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn mỗi ngày.
Đầu xuân, chiến dịch đắp đê rầm rộ lại bắt đầu. Phóng mắt nhìn ra, cả bãi sông toàn người là người đang làm việc khí thế ngất trời. Người trong núi cũng phải ra gánh đá đắp đê. Sau hai ngày nghỉ, đám học sinh lại tốp năm tốp ba rủ nhau cùng người lớn trong đại đội mình ra ngoài gánh đá, rồi quay trở lại trường học.
Tiếng tàu hỏa xình xịch ồn ào vang lên. Khi tàu dừng lại ở một ga, vô số người chen chúc nhau lên tàu.
Một cô gái buộc tóc đuôi ngựa, mặc bộ đồ thể thao, tay xách hờ một chiếc túi vải thô, gian nan len lỏi vào toa tàu. Đối mặt với toa xe chật ních và ồn ào, cô nhíu mày đầy vẻ khó chịu, cố né tránh những người xung quanh. Mùi hỗn tạp khó ngửi trong không khí khiến cô cảm thấy khó thích nghi vô cùng.
