Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 289:-----
Cập nhật lúc: 08/01/2026 11:18
Lứa heo đầu tiên tại trại heo Cửa
Sông Bồ đã đến kỳ xuất chuồng. Ngoài việc giữ lại heo nái để gây giống, Đại đội Lâm Hà còn mua lại năm con, mổ thịt chia cho bà con xã viên để bồi bổ sức khỏe sau những ngày mùa vụ vất vả. Việc này khiến người dân Lâm Hà vui như mở cờ trong bụng, cười không khép được miệng.
Đại đội Lâm Hà chưa bao giờ có những ngày tháng sung túc đến thế: vừa có trứng vịt, vừa có cá, lại có cả thịt heo. Dù chia ra mỗi nhà chẳng được bao nhiêu, nhưng đó là món mặn quý giá. Mọi năm, chỉ đến cuối năm mổ heo ăn Tết, mỗi nhà mới được chia một, hai cân thịt. Mà thịt ấy có dám ăn ngay đâu, phải ướp muối để dành, chờ đến ngày mùa mới dám thái vài lát mỏng cho lao động chính ăn lấy sức bù đắp cho cường độ làm việc nặng nhọc.
Đâu như năm nay, mới giữa năm đã được chia cá, chia thịt. Bao nhiêu mệt nhọc dường như tan biến theo miếng thịt tươi, con cá béo vừa được phát.
Với hơn 7.000 mẫu đất bãi bồi ven sông và vài trăm mẫu đất chân núi, tổng cộng Đại đội Lâm Hà có đến 8.000 mẫu ruộng. Người trong đại đội làm không xuể, đành phải nhờ "bà con" trong núi ra giúp. Không chỉ đàn ông đi "thăm thân" để gặt lúa cấy mạ, mà phụ nữ cũng tham gia. Trẻ con nhỏ quá không ai trông thì đặt ngồi trên bờ ruộng bắt châu chấu.
Chỗ ngủ cũng được lo liệu chu đáo: các phòng học của trường Tiểu học Ven Sông được mở cửa, kê vài cái bàn học ghép lại, trải chiếu cỏ lau lên là thành giường cho họ ngả lưng qua đêm.
Chẳng những bao ăn bao ở, khi xong việc, mỗi người còn được nhận 60 cân thóc và 20 cân khoai lang. Thóc tươi vừa gặt, phơi qua một nắng mùa hè, nếu đem xát vỏ cũng được gần 50 cân gạo. Nếu độn thêm rau dại, cám, khoai lang thì đủ cho cả nhà họ ăn dè sẻn trong hai, ba tháng.
Quan trọng nhất là, họ làm việc ở Lâm Hà hai tháng thì tiết kiệm được hai tháng lương thực ở nhà, giúp người già và trẻ nhỏ ở nhà đỡ đói hơn một chút.
Nông trường Cửa Sông Bồ hiện nay cũng canh tác hơn 8.000 mẫu đất, cũng thuê rất nhiều trai tráng nam nữ trong núi ra làm.
Phụ nữ vất vả hơn đàn ông nhiều vì vừa làm vừa phải trông con. Trẻ lớn tầm 4-5 tuổi thì tự chơi trên bờ ruộng, đứa nào chăm chỉ thì biết dắt em, chổng m.ô.n.g đi mót lúa rơi vãi trên ruộng hoặc lẽo đẽo theo sau bố mẹ. Cửa Sông Bồ đất bằng phẳng, toàn là ruộng lúa mênh m.ô.n.g, không có cây cối che nắng, nên với những đứa trẻ quá nhỏ, mới vài tháng tuổi hoặc 1-2 tuổi, các mẹ sợ bờ ruộng có rắn nên đành dùng vải địu c.h.ặ.t con trên lưng mà làm việc.
Cũng có đàn ông địu con làm việc nhưng rất ít, chủ yếu vẫn là phụ nữ, mười người thì đến bốn, năm người phải địu con. Ban đầu dân binh không đồng ý, nhưng sau thấy Hứa Minh Nguyệt đi tuần tra nhìn thấy mà không nói gì, những người phụ nữ đang toát mồ hôi hột vì lo sợ và cả đám dân binh mới thở phào nhẹ nhõm.
Những đứa trẻ đi mót lúa mỗi ngày cũng thu hoạch được kha khá, có đứa nhặt được cả một ôm đầy.
Hứa Minh Nguyệt không khắt khe đến mức tịch thu số lúa mót được của trẻ con. Cũng vì thế, một số người lanh lợi khi bó lúa hay gánh lúa sẽ cố tình rũ mạnh cho rơi vãi một ít bông lúa lại ruộng để con cái đi nhặt. Nếu nhặt được nhiều, tối đến họ sẽ không ngủ lại nhà tù nông trường mà tranh thủ trời tối gánh hai đứa con và lúa về nhà, giao cho người già phơi phóng, sáng hôm sau lại gánh con ra Cửa Sông Bồ làm việc.
Lý do họ thích mang con theo, ngoài việc để trẻ con mót lúa, còn vì cơm ở Bồ Than Hà mấy ngày này không phải cháo loãng mà là cơm khô, lại có món trai sông sốt tỏi xào dầu thơm phức.
Nông trường đông người, nấu ăn cũng nhiều, trẻ con ăn ké vài miếng, dân binh ở Cửa Sông Bồ cũng mắt nhắm mắt mở cho qua.
Mãi đến khi vụ gặt kết thúc, họ vẫn còn thòm thèm, thậm chí có chút tiếc nuối. Trai sông đối với dân sống ven sông lớn là món ăn đến phát ngán, nhìn thấy là muốn nôn, nhưng với người trong núi thì lại là đặc sản. Hơn nữa đầu bếp của trại cải tạo nấu rất khéo, không chỉ khử sạch mùi tanh mà thịt trai còn mềm, béo ngậy, không hề bị dai.
Những người chăm chỉ, sau vụ gặt mang con về nhà, trước cửa cũng phơi được ít nhất hai, ba mươi cân thóc mót được.
Vụ mùa kết thúc, Đại đội Lâm Hà và Nông trường Cửa Sông Bồ lại bước vào một guồng quay bận rộn mới.
Đầu tiên là kế hoạch khai giảng học kỳ hai của trường Tiểu học Ven Sông. Theo lẽ thường, học kỳ một khai giảng vào rằm tháng Giêng, chưa đến lúc tuyển sinh cho năm học mới. Nhưng sợ học kỳ sau lại bận rộn như vụ mùa vừa rồi, không có thời gian chuẩn bị, ban giám hiệu quyết định đăng tuyển trước một số giáo viên ở vùng phía nam sông Đại Hà để chuẩn bị cho kỳ khai giảng sắp tới.
Lần này số lượng tuyển dụng không nhiều như cuối năm ngoái, chỉ tuyển tạm thời 3 giáo viên bản địa và 3 giáo viên thanh niên trí thức.
Thông báo vừa dán ra, đám thanh niên trí thức đã chờ đợi hơn nửa năm lập tức sục sôi, quên cả mệt nhọc, ngày đêm ôm sách ôn luyện.
Tiếp theo là chuyện điện đóm. Đại đội Lâm Hà đã có điện, nhưng để phòng ngừa chính sách thay đổi trong một hai năm tới, các chuyên gia có thể bị điều đi bất cứ lúc nào, nhóm giáo sư Trần Vệ Dân đã mở một lớp đào tạo tại trường tiểu học. Học viên là 30 thanh thiếu niên từ 13 đến 17 tuổi, cả nam lẫn nữ, được huấn luyện về kỹ thuật thủy điện để sau này có thể tự vận hành và bảo trì trạm.
Sự kiện quan trọng tiếp theo là sau khi trạm thủy điện Lâm Hà (sau này gọi là Trạm thủy điện Ven Sông) hoàn thành, Bí thư Giang Thiên Vượng vô cùng xúc động. Ông nhận ra trách nhiệm của mình giờ đây không chỉ gói gọn trong Đại đội Lâm Hà, mà còn bao gồm cả Đại đội Kiến Thiết, Đại đội Hòa Bình và Nông trường Cửa Sông Bồ với tư cách là Bí thư Công xã Thủy Phụ.
Trước đó, khi khảo sát địa hình, nhóm giáo sư Trần Vệ Dân nhận thấy điều kiện địa lý vùng phía nam sông Đại Hà rất tốt, nguồn nước trong núi dồi dào. Nếu không có nguồn nước này, ngọn núi lớn kia cũng chẳng thể nuôi sống bao nhiêu người dân miền núi bấy lâu nay.
Dù đang trong cảnh tù tội, nhưng với tinh thần trách nhiệm và chuyên môn cao, các chuyên gia đã vẽ ra một bản quy hoạch thủy điện hoàn chỉnh cho toàn vùng. Kế hoạch mang tên "Một núi tám trạm, mười hồ liên kết, kênh rạch thông nhau". Nếu thành hiện thực, nó không chỉ giải quyết vấn đề điện năng mà còn đảm bảo tưới tiêu cho hơn một vạn mẫu ruộng trong núi.
Đây là một công trình khổng lồ. Hiện tại, Giang Thiên Vượng và Hứa Kim Hổ mới chỉ là cán bộ công xã, trách nhiệm trực tiếp là với ba đơn vị: Kiến Thiết, Hòa Bình và Cửa Sông Bồ . Vì vậy, bước khả thi tiếp theo trong kế hoạch "một núi tám trạm" là xây dựng thêm một trạm thủy điện nằm giữa Đại đội Kiến Thiết và Đại đội Hòa Bình, nhằm phổ cập điện cho toàn bộ các đại đội sản xuất thuộc vùng phía nam sông Đại Hà.
Kế hoạch này khiến Giang Thiên Vượng phấn khích đến mất ngủ. Ông mơ về cảnh tượng không chỉ Lâm Hà, mà toàn bộ vùng phía nam sông Đại Hà đều rực rỡ ánh đèn như sao sa, sánh ngang với khu mỏ Thán Sơn bên kia sông.
Nhưng thực tế lại khó khăn hơn nhiều so với việc làm điện ở Lâm Hà. Lâm Hà là đại đội giàu nhất vùng, tự lo được kinh phí. Còn Kiến Thiết và Hòa Bình thì nghèo rớt mồng tơi, nghĩa là toàn bộ vốn liếng phải do công xã gánh vác.
Thêm vào đó, người dân ở hai đại đội này nhìn Lâm Hà có điện thì thèm, nhưng bảo họ tự bỏ tiền ra lắp điện thì họ lại lắc đầu quầy quậy. Suy nghĩ của họ y hệt dân ba thôn Thi, Hồ, Vạn: "Lắp điện tốn tiền!"
Đã thế lại còn phải lao động khổ sai cả năm trời.
Vốn dĩ mỗi năm họ đã phải đi đắp đê, chui hầm than, làm việc đồng áng, quanh năm suốt tháng chẳng được nghỉ ngơi. Giờ bắt đi xây trạm thủy điện chẳng khác nào tròng thêm một cái ách lao dịch lên cổ. Đa số đều không muốn, thà dành thời gian đó ngủ thêm một giấc còn hơn.
Giang Thiên Vượng gọi Bí thư, Chủ nhiệm hai đại đội Kiến Thiết và Hòa Bình lên họp liên miên mấy ngày, nhưng phản hồi nhận được khiến ông chỉ biết vuốt mặt thở dài.
Hai đại đội kia không mặn mà chuyện xây trạm thủy điện, nhưng Hứa Minh Nguyệt ở Nông trường Cửa Sông Bồ Than Hà thì lại cực kỳ tha thiết!
Tuy nhiên, theo khảo sát của nhóm giáo sư Trần, vị trí thích hợp nhất để xây thủy điện là khe núi nằm giữa Kiến Thiết và Hòa Bình, tận dụng thế nước từ trên núi đổ xuống sông Trúc Tử.
Còn Bồ Than Hà của Hứa Minh Nguyệt nằm ở đoạn sông rộng hai ba trăm mét, dòng chảy êm đềm, chỉ hợp tưới tiêu chứ không đủ thế năng để làm thủy điện.
"Không xây được thủy điện thì xây trạm phát điện khí bioga!" Hứa Minh Nguyệt hăng hái tranh đấu cho nông trường: "Từ năm ngoái khi bắt đầu nuôi heo, chúng tôi đã chuẩn bị cho việc này. Hầm bioga ở Bồ Than Hà đã ủ men suốt một năm rồi. Nếu Kiến Thiết và Hòa Bình không muốn làm, chi bằng để giáo sư Trần xây trạm phát điện cho Bồ Than Hà trước, giải quyết vấn đề điện sinh hoạt và sản xuất cho trại heo."
Cô thuyết phục Giang Thiên Vượng: "Bí thư đừng thấy Kiến Thiết và Hòa Bình đông dân mà ham, người ở Bồ Than Hà cũng đâu có ít, lại còn cái trại heo quy mô lớn cần dùng điện liên tục nữa."
Sau nhiều lần bàn thảo và nhờ sự tranh đấu tích cực của Hứa Minh Nguyệt, Công xã Thủy Phụ quyết định đặt địa điểm trạm phát điện thứ hai tại Nông trường Bồ Than Hà.
Giáo sư Trần Vệ Dân cùng đội ngũ của mình, sau hơn một năm lăn lộn ở Lâm Hà, cuối cùng cũng quay lại Bồ Than Hà, bắt tay vào xây dựng trạm phát điện khí bioga cách trại heo không xa.
Việc này thực ra cũng khiến nhóm giáo sư Trần thở phào nhẹ nhõm.
Dù không khí ở Đại đội Lâm Hà rất tốt, người dân tôn trọng họ, nhưng làm việc ở đó họ vẫn luôn nơm nớp lo sợ, đi đứng khép nép, hạn chế giao tiếp tối đa.
Chỉ khi trở về trại cải tạo Bồ Than Hà, trở về phòng giam quen thuộc mỗi tối, họ mới tìm thấy cảm giác an toàn, mới có thể ngủ ngon giấc.
Họ hiểu rằng, chỉ có Tiểu Hứa chủ nhiệm ở đây mới thực sự coi họ là con người và bảo vệ họ một cách thiết thực nhất.
Được quay về Bồ Than Hà, không phải đi lại Lâm Hà mỗi ngày, ai nấy đều yên tâm hơn hẳn. Họ dốc toàn tâm toàn lực vào dự án điện khí bioga, giống như được trở lại vị trí công tác ngày xưa, dùng kiến thức tích lũy cả đời để cống hiến cho tổ quốc, quên đi thân phận tù tội hiện tại.
