Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 288
Cập nhật lúc: 08/01/2026 11:18
Nhóm của Trần Vệ Dân bận rộn tối tăm mặt mũi, chẳng được ngơi tay phút nào. Đầu tiên là lắp đặt máy phát điện, sau đó chạy thử nghiệm, đợi trạm thủy điện hoàn thiện xong xuôi lại bắt tay vào việc kéo dây điện.
Vì địa hình vùng này thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt, nên việc chôn cột điện bằng cây sam cũng phải tính toán rất kỹ. Ban đầu, các cán bộ đại đội định chôn cột điện ở lưng chừng thân đê. Họ tính toán rằng cây sam vốn cao thẳng, cao đến năm sáu mét, dù chôn ở lưng chừng thì ngọn cột vẫn cao hơn mặt đê hơn hai mét, người đứng trên đê không thể chạm tới dây điện. Hơn nữa, khoảng cách từ mặt đê xuống chỗ chôn cột ở eo đê khá xa, người đi đường hay xe cộ cũng không thể nào va phải.
Kiếp trước, Đại đội Lâm Hà quả thực đã chôn cột điện theo cách đó.
Nhưng vào thời điểm Hứa Minh Nguyệt học cấp hai ở kiếp trước, một sự kiện chấn động đã xảy ra mà cô chính là một trong những nhân chứng.
Đó là trận đại hồng thủy năm 98. Toàn bộ vùng phía nam sông Đại Hà đều chìm trong biển nước, các thôn làng bị nhấn chìm, chỉ riêng thôn Hứa gia nhờ địa thế cao ráo mà may mắn thoát nạn. Dân tị nạn từ khắp nơi đổ về đây, thuyền bè của thôn Hứa gia cũng đảm nhận nhiệm vụ đưa đón học sinh toàn vùng đi học về vào cuối tuần.
Hứa Minh Nguyệt lúc ấy là một trong những học sinh ngồi trên chuyến thuyền đó.
Học sinh trung học tan học muộn, từ trấn Thủy Phụ về đến thôn Hứa gia thì trời đã tối đen như mực. Vì nước lũ dâng cao ngập cả thân đê, những cột điện chôn ở lưng chừng đê giờ chỉ còn lộ mỗi phần đỉnh trên mặt nước.
Ai từng nhìn thấy đường dây điện đều biết, dây điện không bao giờ căng thẳng tắp mà sẽ võng xuống ở giữa tạo thành hình vòng cung, độ võng khoảng một mét. Lúc ấy, dây điện chỉ cách mặt nước lũ chưa đầy một mét. Đêm tối đi thuyền không nhìn thấy dây, dù chủ thuyền đã rất cẩn thận dùng sào tre để gạt, nhưng dây điện vẫn vướng vào bánh lái.
Người chủ thuyền sống trên sông nước mấy chục năm, bơi lội giỏi như rái cá, ngay lập tức bị dây quật văng xuống nước. Chiếc thuyền mất người lái nhưng máy vẫn nổ, cứ thế lao về phía trước. Trong cơn lũ, càng gần đến thôn Hứa gia thì đê đập càng nhiều, nguy cơ va phải dây điện chằng chịt càng lớn.
Cô đến giờ vẫn còn nhớ rõ tiếng khóc than vang vọng khắp con thuyền và cuộc cứu hộ trên sông kéo dài mấy ngày liền. Đó không phải lần cô ở gần cái c.h.ế.t nhất, nhưng là lần đầu tiên cô trực diện chứng kiến sự vô thường của sinh mệnh.
Vì thế, dưới sự phản đối quyết liệt của Hứa Minh Nguyệt, lần này cột điện không chôn ở lưng chừng đê nữa mà chôn trực tiếp ngay trên mặt đê.
Các cán bộ thôn tuy chấp nhận kiến nghị của Hứa Minh Nguyệt, nhưng khi đi theo giám sát việc chôn cột, nhìn những cây cột sừng sững trên mặt đê, họ ngó trước ngó sau vẫn thấy lấn cấn: "Mặt đê vốn đã không rộng, chỉ vừa đủ hai xe tránh nhau, giờ thêm cái cột điện chắn ở đây, lỡ không cẩn thận người và xe lăn xuống sông lớn thì khổ."
Hứa Minh Nguyệt đáp: "Vậy thì mở rộng mặt đê, làm thêm rào chắn an toàn ở hai bên đường."
Đám cán bộ đại đội chưa từng nghe đến khái niệm "rào chắn an toàn", nghe Hứa Minh Nguyệt giải thích một hồi mới hiểu đó là vật cản ở hai bên mép đê để ngăn người và xe rơi xuống sông.
"Đê dài thế này thì tốn bao nhiêu gỗ làm rào cho đủ? Chặt trụi cả núi cũng không xong, mà cây trên núi là tài sản của nhà nước, c.h.ặ.t bừa bãi thế nào được?"
Tỉa chút cành làm củi thì thôi, chứ c.h.ặ.t cây lấy gỗ làm cọc là chuyện không thể.
Hứa Minh Nguyệt trừng mắt nhìn họ: "Không được c.h.ặ.t cây thì trồng cây! Chỉ cần bẻ cành liễu cắm dọc bờ sông, chẳng mấy năm nữa cây bén rễ mọc lên um tùm, hai bên bờ đê rợp bóng liễu rủ, hoa đỏ liễu xanh, cảnh sắc có kém gì Nam Hồ đâu?"
Không phải các cán bộ không nghĩ ra, mà là nhiều khi họ ngại nghĩ. Tư duy bị đóng khung, cấp trên bảo sao làm vậy, thêm một việc chi bằng bớt một việc. Quanh năm suốt tháng đắp đê, chui hầm than, cày cấy gặt hái đã vắt kiệt sức lực của họ, họ chẳng còn tâm trí đâu mà tự tìm thêm việc cho mình.
Nhưng nghe Hứa Minh Nguyệt nói, việc trồng liễu hóa ra rất đơn giản, chỉ cần cắt cành cắm xuống đất ẩm, giao cho ông lão chăn bò cùng đám trẻ con làm là xong, nên họ cũng đồng ý.
Vì mùa gặt hái bận rộn sắp đến, Đại đội Lâm Hà phải tăng ca làm đêm để kịp hoàn thiện hệ thống điện.
Không chỉ nhóm Trần Vệ Dân, mà cả các giáo sư, giảng viên biết về thủy điện đang bị hạ phóng ở Cửa Sông Bồ , cùng đám thanh niên trí thức ở vùng phía nam sông Đại Hà đều được huy động. Họ dốc toàn lực để Lâm Hà sớm có điện.
Đám thanh niên trí thức này có thể không giỏi việc nhà nông, nhưng nhờ có nền tảng học vấn và được các giáo sư chỉ dạy, họ tiếp thu kiến thức thủy điện nhanh hơn nhiều so với những nông dân mới chỉ qua lớp xóa mù chữ. Việc này cũng giúp giải phóng sức lao động cho trai tráng trong thôn để họ tập trung chuẩn bị cho mùa vụ sắp tới.
Bận rộn suốt đến cuối tháng 7, vào thời điểm nóng nhất trong năm, sau hơn một năm thi công ròng rã, cuối cùng Đại đội Lâm Hà cũng có điện.
Đúng vào ngày Rằm tháng Bảy, từ trụ sở đại đội, khu núi hoang, trường tiểu học ven sông cho đến nhà các cán bộ, đèn đuốc sáng trưng.
Nói "sáng trưng" thì hơi quá, vì nhà nào cũng chỉ lắp loại bóng 15W tiết kiệm điện nhất. Ánh sáng vàng vọt lờ mờ, thực tế chỉ giúp những người bị quáng gà không biến thành người mù khi đêm xuống, nhưng với người dân Lâm Hà, ngọn đèn ấy là niềm mong mỏi suốt bao năm trời.
Rất nhiều người dân cầm đuốc đi trong đêm đến nhà đại đội trưởng, chủ nhiệm để xem cái sự "lạ", đông hơn nữa là tụ tập bên ngoài trụ sở đại đội và trường tiểu học để xem náo nhiệt.
Học sinh trường tiểu học nhìn những bóng đèn sáng lên trong ký túc xá mà reo hò thích thú. Đây không phải là ánh đèn đốm nhỏ xa xăm bên kia bờ sông nữa, mà là ánh sáng điện ngay trên đầu chúng. Chúng tò mò ngắm nhìn, không dám chạm vào, cũng chẳng dám sờ.
Công tắc đèn thời đó không phải nút bấm như bây giờ, mà là loại dây giật. Một cái hộp nhựa đen hình bán nguyệt gắn trên tường gỗ, thòng xuống một sợi dây gai chắc chắn. Giật một cái đèn sáng, giật cái nữa đèn tắt.
Có học sinh tò mò cứ giật ra giật vào liên tục, làm các thầy cô thanh niên trí thức hoảng hốt ngăn lại: "Này này! Không được nghịch thế, bóng đèn nổ bây giờ!"
Đám trẻ sợ xanh mặt, vội rụt tay lại, sợ làm nổ bóng đèn thì phải đền tiền.
Lão hiệu trưởng cũng chẳng biết bóng đèn có nổ thật không, nhưng nghe vậy thì nghiêm giọng dọa thêm: "Sau này trời tối mới được bật, đi ngủ phải tắt, không được bật tắt liên tục. Ký túc xá nào mà có đứa táy máy làm 'nổ' bóng đèn, bắt được ai thì người nấy đền, không bắt được thì cả phòng cùng đền!"
Đám trẻ sợ quá giấu hết tay ra sau lưng. Có đứa còn quay sang dọa thằng bé nghịch ngợm vừa nãy: "Tam Trụ, mày mà còn dám giật dây đèn lung tung tao mách thầy, cho mày đền ốm!"
Cậu học sinh tên Tam Trụ vội thanh minh: "Tao chừa rồi, sau này không giật nữa là được chứ gì?"
Các thầy cô thanh niên trí thức lại kiến nghị: "Việc bật tắt đèn nên giao cho lớp trưởng và lớp phó phụ trách, những người khác không được tùy tiện..."
Lời còn chưa dứt, trường tiểu học đang sáng trưng bỗng tối sầm lại. Học sinh la hét ầm ĩ, tưởng bóng đèn hỏng thật, sợ bị bắt đền.
Bên phía Đại đội Kiến Thiết nhìn sang, thấy trên khu đất cao của thôn Hứa gia đèn điện đang sáng bỗng tắt ngóm, dân tình đổ xô ra đường bàn tán: "Mau nhìn kìa, Lâm Hà có điện rồi!"
"Ôi mẹ ơi, Lâm Hà có điện thật rồi!"
"Ủa? Sao lại tắt rồi?"
Thấy ánh đèn vừa lóe lên đã tắt ngấm, người dân Đại đội Kiến Thiết và các vùng lân cận đều ồ lên kinh ngạc.
Không chỉ Kiến Thiết, mà cả Đại đội Hòa Bình ở xa hơn, rồi người dân ba thôn chân núi Thi, Hồ, Vạn, và cả Đại đội Thạch Giản bên cạnh cũng đổ ra đứng đầy trên đê, rướn cổ nhìn về phía Lâm Hà. Đây là đại đội đầu tiên trong vùng có điện!
Một số người xấu bụng ở ba thôn chân núi thấy đèn tắt thì vỗ tay cười cợt: "Ối dào, sáng chưa được ba phút đã tắt, có tích sự gì đâu? Mỗi tháng lại tốn tiền oan, thà dùng đèn dầu còn hơn, muốn tắt lúc nào thì tắt, chẳng mất đồng nào!"
Nghe thấy thế, trưởng thôn Vạn Gia bực mình quát: "Không muốn xem thì về nhà! Không ai mướn các người xem. Các người không chịu lắp điện là chuyện của các người, sau này đừng có hối hận!" Thực ra trong lòng ông cũng sốt ruột, vì nhà ông đã bỏ ra hơn một đồng để lắp điện.
Chưa đầy mười phút sau, đèn lại sáng. Hóa ra do trạm thủy điện quy mô nhỏ (tua-bin 512KW và máy phát 256KW), khi mới đóng điện, tất cả các bóng đèn cùng bật một lúc khiến điện áp không ổn định. Sau khi giáo sư Trần và mọi người điều chỉnh, đèn đã sáng lại bình thường.
Để tránh lãng phí và sụt áp, lão hiệu trưởng lập tức sai giáo viên lên tắt bớt điện ở các phòng học trống, chỉ để lại đèn ở ký túc xá. Ông ra quy định: "Từ nay ký túc xá học sinh tắt đèn lúc 7 giờ tối, ký túc xá giáo viên tắt lúc 8 giờ!"
Ở nông thôn mọi người vốn ngủ sớm. Mùa hè, nhà nào ăn sớm thì 7 giờ đã xong xuôi lên giường, muộn lắm thì 8 giờ cũng đi ngủ. Trong mắt lão hiệu trưởng, 8 giờ tối mà chưa ngủ thì chỉ có đi làm trộm!
Đám thanh niên trí thức thì vui như mở hội. Về nông thôn cắm đội mà được ở nhà ngói rộng rãi, lại có điện thắp sáng, sướng hơn khối nơi. Ngoài việc phải làm đồng và không được tùy tiện đi lại, cuộc sống chẳng khác mấy ở thành phố. Những người có gia đình êm ấm như Diệp Điềm, Lý Hân, La Dụ Nghĩa còn tranh thủ gửi đặc sản quê như trà Minh Tiền, măng khô, dương xỉ khô, cá khô về nhà. Nếu không phải quê nhà không biết cách nấu củ ấu, họ còn muốn gửi cả ngó sen, củ ấu về cho bố mẹ nếm thử.
Công việc đồng áng tuy mệt nhọc nhưng tương lai ở Lâm Hà đầy hứa hẹn. Ngoài trường tiểu học, sắp tới trại vịt sẽ mở rộng, rồi còn trại gà, trại ngỗng cũng nằm trong kế hoạch. Ai cũng muốn được vào làm trong các nhà máy, trang trại này cho đỡ vất vả hơn làm ruộng. Vì thế, các thanh niên trí thức thi nhau làm việc chăm chỉ, biểu hiện tốt để mong lọt vào mắt xanh của cán bộ đại đội trong đợt tuyển dụng tới.
Sau Rằm tháng Bảy, toàn bộ vùng phía nam sông Đại Hà bước vào mùa gặt hái bận rộn ("song thưởng"). Học sinh trường tiểu học ven sông được nghỉ hè, về nhà đứa nào cũng huyên thuyên khoe khoang chuyện trường có điện, đèn sáng thế nào, tiện lợi ra sao, khiến người dân trong núi càng thêm khao khát cuộc sống ở Lâm Hà.
Kết thúc mùa vụ, ai nấy đều đen đi mấy tông da. Lật tay áo lên là thấy rõ hai màu: trong trắng ngoài đen.
Trong suốt mùa gặt, trứng vịt của trại không bán cho Hợp tác xã nữa mà chia hết cho xã viên Đại đội Lâm Hà để bồi dưỡng sức khỏe. Ngoài ra, trại cá cũng đ.á.n.h bắt một mẻ cá mè lớn để chia cho bà con cải thiện bữa ăn hàng ngày.
.
