Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 329

Cập nhật lúc: 10/01/2026 15:34

Mái tóc người phụ nữ bết lại thành từng cục do dính phân trâu, trên mặt cũng nhem nhuốc những vệt đen sì. Chiếc áo bông đen trên người cô như được phủ một lớp vỏ cứng dày đặc, tỏa ra thứ mùi đặc trưng của chuồng gia súc. Đôi tay cô cũng đen nhẻm, sần sùi. Mùa đông năm trước, vì quá lạnh, cô đã phải vùi đôi tay cóng buốt vào bãi phân bò mới thải ra. Thứ hơi ấm hôi hám ấy đã giúp cô giữ lại đôi tay này, dù giờ đây lớp phân khô đã bong tróc đi ít nhiều.

Tuy bước đi loạng choạng, ngã lên ngã xuống không biết bao nhiêu lần, nhưng cái t.h.a.i trong bụng cô vẫn vững vàng, không hề có dấu hiệu sẩy mất.

Đoạn đường núi người bản địa chỉ đi mất một ngày, cô phải lê lết suốt ba ngày hai đêm mới xong. Buổi tối, cô tìm những hốc đất đỏ khô ráo, khuất gió, cuộn tròn người lại ngủ vùi. Tiếng thú hoang tru tréo trong đêm rừng cũng chẳng thể khiến cô lùi bước.

Đầu óc cô lúc tỉnh lúc mê, gương mặt ngơ ngác. Cô thậm chí không biết chuyến đi này là tìm đường sống hay lại bước chân từ địa ngục này sang một địa ngục khác. Trong đầu cô chẳng còn nhớ được gì, chỉ lẩm bẩm mãi một câu như thần chú: "Chân núi Thạch Lô, đại đội Lâm Hà!"

Cô nhớ như in lời dặn: "Bí thư công xã bên cạnh là phụ nữ, hãy đi tìm cô ấy!"

Chỉ cần nghĩ đến câu nói đó, cô lại c.ắ.n c.h.ặ.t cổ tay mình trong đêm tối, rên rỉ như một con thú nhỏ lạc đường. Cô không biết tìm người đó có ích gì không, nhưng đó là hy vọng duy nhất. Có những lúc đứng trên đường mòn ven vách núi, nhìn vực sâu hun hút bên dưới, cô đã muốn nhảy xuống cho xong, c.h.ế.t đi là giải thoát.

Nhưng cuối cùng, cô vẫn lết được đến cửa núi.

Cửa núi là một hẻm núi lớn, hai bên vách đá dựng đứng sừng sững, cái tên Đại đội Thạch Môn (Cửa Đá) cũng từ đó mà ra.

Có hẻm núi nghĩa là có suối nguồn. Tiếp theo chỉ cần men theo dòng suối đi xuống là ra khỏi núi. Nhưng con đường này đi qua rất nhiều thôn xóm hình thành quanh nguồn nước. Muốn vượt qua đại hẻm núi, cô bắt buộc phải đi xuyên qua những ngôi làng đó, không thể tránh mặt người khác được.

Cô rụt rè, trốn tránh như một con thú hoang sợ hãi.

Hôm nay, Triệu Xuân Hoa dẫn đám trai tráng trong thôn đi đắp đê, ở nhà chỉ còn Mã Tú Mai và bố mẹ chồng.

Bố chồng là người chăm chỉ, thấy măng mùa đông trên núi đang rộ, ông bèn đeo gùi đi đào để cải thiện bữa ăn, đỡ xót ruột vì ăn khoai lang mãi. Mẹ chồng cô chân bó, đi lại khó khăn nên chỉ loanh quanh việc nhà. Mã Tú Mai vừa hết ở cữ, gánh đôi thùng gỗ nhỏ ra suối lấy nước.

Mùa đông nước cạn, suối trong hẻm núi chỉ còn nước đọng lại ở vài hố đá sâu. Mã Tú Mai cầm chiếc gáo hồ lô, cẩn thận múc từng gáo nước vào thùng.

Đang mải múc nước, ngẩng đầu lên, cô giật b.ắ.n mình khi thấy một gương mặt đen sì cùng đôi mắt to sáng quắc nhìn chằm chằm. Tưởng thú dữ trên núi xuống, cô vội vớ lấy cái đòn gánh định phang vào bụi cỏ, nhưng nhìn kỹ lại thì hóa ra là một người phụ nữ tóc tai bù xù như kẻ điên.

Mã Tú Mai suýt hét lên thất thanh. Cô nhìn quanh quất không thấy ai, mới hoàn hồn dùng tiếng địa phương hỏi: "Ối giời ơi, trời lạnh thế này sao cô lại trốn ở đây? Dọa tôi bay mất cả hồn vía!"

Nhìn xuống cái bụng bầu to vượt mặt như cái nia của người phụ nữ, lòng trắc ẩn của người mẹ mới sinh trỗi dậy: "Bụng to thế kia không ở nhà dưỡng thai, sao lại chạy rông ngoài đường một mình thế này? Nhỡ đẻ rơi đẻ rớt thì biết làm sao?"

Thấy người phụ nữ đen nhẻm mở to đôi mắt hoảng sợ nhìn mình, Mã Tú Mai chợt nghĩ ra điều gì. Thấy xung quanh vắng vẻ, cô thu đòn gánh chạy vội về nhà. Nhà cô nằm ngay sát bờ suối, cửa hướng thẳng ra dòng nước.

Rất nhanh, cô lục trong bếp lấy hai củ khoai lang đã luộc chín, chạy quay lại. Nhưng khi đến nơi, bụi cỏ đã trống không.

Mã Tú Mai gọi khẽ hai tiếng nhưng không thấy ai trả lời. Cô đành đặt hai củ khoai lang còn nóng hổi lên tảng đá ven bụi cỏ, rồi vội vàng gánh nước về nhà.

Số cô may mắn hơn nhiều nàng dâu khác trong thôn vì mẹ chồng chính là cô ruột. Cô được cô ruột nuôi lớn, với chồng vừa là phu thê vừa là anh em họ, tình cảm sâu nặng. Trong nhà tuy lương thực do mẹ chồng quản lý nhưng bà không bao giờ khắt khe chuyện ăn uống, cũng chẳng tính toán xem cô có ăn thêm vài củ khoai hay không.

Thấy con dâu đi ra đi vào hai lần, mẹ chồng tưởng cô gánh hai chuyến nước, bèn gọi vọng ra: "Mơ ơi! Đừng có gánh nước mãi thế, để đấy chờ bố mày về mà gánh. Mới sinh xong thằng hai, phải giữ gìn sức khỏe. Việc nặng để đàn ông làm, nghe chưa?"

Mã Tú Mai đặt thùng nước xuống, vội vào nhà chính thì thầm với mẹ chồng: "Mẹ, mẹ đoán xem con vừa thấy gì ngoài kia?"

Bà cụ đang ngồi trong thùng sưởi khâu đế giày, kéo tay con dâu hơ vào lò than: "Vào đây cho ấm, chuyện gì mà bí mật thế?"

"Con vừa gánh nước ngoài suối thì gặp một người phụ nữ bụng mang dạ chửa, dọa con giật cả mình." Cô miêu tả lại: "Bẩn lắm mẹ ạ, nhìn là biết từ trong núi chạy ra, cái bụng kia chắc cũng phải bảy tám tháng rồi."

Mẹ chồng kéo cô lại gần, hạ giọng: "Đừng có dây vào, cũng đừng nói cho ai biết, rõ chưa?"

Mã Tú Mai ngập ngừng: "Mẹ, con thấy cô ấy đáng thương quá nên lén đưa hai củ khoai lang."

Bà cụ tiếp tục khâu giày, đầu không ngẩng lên: "Cho thì cho rồi, cũng là kiếp người đáng thương. Coi như con không biết chuyện này đi."

Người phụ nữ bụng bầu đợi Mã Tú Mai vào nhà hẳn, không thấy quay lại nữa mới rón rén bò ra, chộp lấy hai củ khoai lang còn bốc hơi nóng. Cô trốn ra sau bụi gai, nhét vội vào miệng, vừa ăn vừa nuốt chửng, nghẹn ứ ở cổ họng vẫn cố vươn cổ nuốt xuống.

Còn lại một củ, cô không ăn nữa mà nhét vào n.g.ự.c áo để giữ ấm và để dành, sau đó lại len lỏi sau những bụi gai, men theo dòng suối cẩn thận đi xuống chân núi.

Cô nhớ nơi này. Trong đầu óc mụ mị bỗng hiện lên tấm bản đồ như ngày cô mới đến đây, văng vẳng lời cô bé tết tóc đuôi sam từng chỉ dẫn: "Đi về hướng Đông hai mươi dặm là đến công xã Ngũ Công Sơn."

Đoạn đường tiếp theo chẳng dễ đi chút nào. Ra khỏi núi, tuyết đã tan gần hết. Dù trời nắng, đường vẫn lầy lội không chịu nổi. Bùn núi dính c.h.ặ.t lấy đế giày, mỗi bước đi nặng trịch như đang chơi kéo co với mặt đất.

Cô gần như bò bằng cả tứ chi, vừa đi vừa bò như dã thú mới đến được công xã Ngũ. Công Sơn.

Đến đây người đông hơn, cô không dám đi đường lớn, chỉ dám len lỏi qua những lối mòn vắng vẻ. Thỉnh thoảng gặp lũ trẻ con, chúng chẳng những không sợ mà còn hò nhau ném đá vào người cô, hô hoán: "Có con điên kìa! Mau lấy đá ném nó đi, không nó đ.á.n.h người đấy!"

Cả đám trẻ con chưa hiểu chuyện đứng cách cô chừng hai ba mươi mét, thi nhau ném đá. Cô chỉ biết ôm đầu chạy trốn. Lũ trẻ thấy vậy càng thích chí, vừa đuổi theo vừa ném. Có người lớn nhìn thấy vội quát: "Cẩn thận kẻ điên nó bắt ăn thịt bây giờ!"

Lũ trẻ sợ hãi giải tán, nhưng vẫn tò mò đứng từ xa nhìn cô chạy về phía công xã như xem xiếc thú, miệng í ới: "Nó chạy về phía đại viện công xã kìa!"

Con đường dẫn đến đại viện công xã Ngũ Công Sơn cũng chính là đường đi thông sang đại đội Lâm Hà.

Khi vượt qua bức tường viện xám xịt, bước lên con đường mòn quen thuộc ngày trước, trong cơn hốt hoảng, cô chợt nhớ ra mà ngẩng đầu lên.

Lúc này trời đã chập choạng tối. Dưới ánh hoàng hôn, chân núi Thạch Lô phía xa hiện ra rõ mồn một, không còn mây mù che phủ. Dù khoảng cách rất xa, nhưng tòa kiến trúc màu đỏ sừng sững trên vùng đất cao gần bờ sông vẫn vô cùng nổi bật giữa những dãy nhà thấp bé, xám xịt bên kia sông.

"Chân núi Thạch Lô, đại đội Lâm Hà."

Không biết tại sao, nhìn về phía ngôi làng đó – dù bên kia sông có hàng loạt ngôi làng san sát nhau – nhưng trực giác mách bảo cô rằng nơi có tòa nhà màu đỏ kia chính là đại đội Lâm Hà.

Trên đê lúc này vẫn còn rất nhiều người đang làm việc. Cô sợ đến mức run bần bật, vội trốn vào một hang đá bên bờ sông phía dưới công xã Ngũ Công Sơn. Đợi đến khi trời tối đen hẳn, người làm trên đê đã về nhà hoặc chui vào lán nghỉ ngơi, cô mới nơm nớp lo sợ thò đầu ra, nhìn về phía bên kia sông lớn.

Khi nhìn thấy ngôi làng duy nhất bên kia sông có ánh đèn điện sáng trưng, đôi mắt cô như bừng lên tia hy vọng. Cô lập tức trèo xuống, men theo bờ đê, hướng về phía ngôi làng rực rỡ ánh đèn duy nhất ấy mà đi!

"Đợt tuyển dụng giáo viên lần này có bao nhiêu người đăng ký thế?" Lão hiệu trưởng tay cầm chiếc ca tráng men, thổi nhẹ lá trà bên trong, hỏi cô cháu gái Hứa Hồng Hà.

Hứa Hồng Hà đang ngồi sắp xếp danh sách đăng ký tại bàn làm việc trong văn phòng ông, nghe hỏi liền đáp: "Ôi mẹ ơi, hơn 70 người lận ông ạ!"

Tay cầm ca nước của lão hiệu trưởng khựng lại, ông đặt ca xuống rồi bước tới: "Đại đội Lâm Hà mình mới có hơn hai chục thanh niên trí thức, sao lại đông thế được?"

"Đại đội Hòa Bình và đại đội Kiến Thiết mỗi nơi cũng có bảy, tám người. Thanh niên trí thức ở công xã Ngũ Công Sơn cũng biết tin trường mình tuyển người, mấy hôm nay lục tục kéo đến đăng ký. Còn cả mấy người ở thành phố bên cạnh, chắc nghe tin từ bên đại đội Hòa Bình nên cũng mò sang bảy, tám người nữa. Mà chưa hết đâu, còn có cả người địa phương nữa cơ!"

Cô chỉ vào danh sách, cau mày chỉ vào mấy cái tên do người đăng ký tự điền, giọng đầy vẻ khoa trương: "Khiếp thật, mấy người này chữ viết còn chưa sõi mà cũng đòi đi thi. Bảy chữ thì sai hết năm, thi thố cái nỗi gì!"

Trong số người địa phương lần này, không chỉ có người của đại đội Lâm Hà mà dân ở các đại đội Thạch Giản, Hòa Bình, Kiến Thiết cũng đăng ký rất đông.

Ba đại đội kia không giống Lâm Hà, lớp xóa mù chữ của họ vẫn duy trì đều đặn nên số người biết đọc biết viết không ít. Nhưng ngặt nỗi, họ không có những tấm gương sáng như Hứa Minh Nguyệt, Hứa Phượng Đài, Hứa Phượng Phát bước ra từ lớp xóa mù chữ để làm động lực như ở Lâm Hà. Hơn nữa, dân bên đó ăn còn chẳng đủ no, ban ngày làm việc quần quật mệt lả, chỉ muốn nằm nghỉ giữ sức chứ đâu còn tâm trí mà học hành. Thế nên, trừ những người cực kỳ hiếu học, phần lớn chỉ cần biết mặt chữ đã là giỏi lắm rồi.

"Người đăng ký chắc cũng đến đủ rồi nhỉ? Thống kê lại số lượng rồi xem cần in bao nhiêu đề thi, tranh thủ làm xong trong hai ngày này đi!" Lão hiệu trưởng ngồi xuống ghế sau bàn làm việc, nhấp ngụm trà, khoan khoái nói.

"Cơ bản là đủ rồi ạ, hôm nay chẳng thấy ai đến nữa. Tổng cộng 76 người, chúng ta chuẩn bị khoảng 80 đề là vừa đẹp," Hứa Hồng Hà đáp.

Đề thi lần này do mấy giáo viên thanh niên trí thức phối hợp cùng Hứa Hồng Hà biên soạn.

Đợt thi đầu tiên chỉ có mình Hứa Hồng Hà là người từng học qua lớp 10, nên đề thi chủ yếu do cô và hai học sinh cấp hai của thôn Giang Gia ra. Đề đợt hai giờ chắc chắn không dùng lại được nữa. Đây là lần tuyển dụng thứ ba, Hứa Hồng Hà bí ý tưởng nên phải gọi các giáo viên thanh niên trí thức đến cùng ra đề.

Họ người Bắc kẻ Nam, giáo trình từng học khác nhau nên cách ra đề cũng phong phú, nhưng may là trình độ cũng sàn sàn nhau.

Đề thi được viết trên giấy pơ-luya do đại đội phát. Loại giấy này rất mỏng, có in khung viền đỏ xung quanh phần giấy trắng. Dưới mỗi tờ giấy viết đều lót một tờ giấy than (giấy ấn) màu xanh dương cùng kích cỡ.

Loại giấy than này số lần sử dụng có hạn, lại rất dễ làm bẩn tay và giấy.

Để đảm bảo công bằng, người chép đề thi lần này là Hứa Hồng Hà và A Cẩm.

Hứa Hồng Hà là cháu gái hiệu trưởng, chữ viết cũng khá nắn nót. Còn A Cẩm thì được rèn viết b.út máy từ hồi mẫu giáo, sau này lại được Mạnh Phúc Sinh kèm cặp nên chữ viết cực đẹp. Khác với nét chữ hào sảng nhưng hơi ẩu của Hứa Minh Nguyệt, A Cẩm viết rất nghiêm túc, từng nét chữ đều tăm tắp, tinh tế như in.

Nội dung thi lần này là tổng hợp bốn môn: Ngữ văn, Toán, Tư tưởng (Người kế tục cách mạng) và Trích dẫn lời Chủ tịch. Những phần đã thi ở hai đợt trước sẽ không lặp lại, toàn bộ đề thi đều mới tinh, dài tổng cộng bốn trang giấy.

Hai chị em chép xong mà cảm giác tay sắp rụng rời. Họ không chỉ chép một lần, vì giấy than chỉ in rõ được khoảng hơn chục bản đầu, nếu xếp chồng giấy quá dày thì những bản phía dưới sẽ bị mờ, đứt nét. Để đề thi được rõ ràng nhất, mỗi người phải chép đi chép lại nhiều lần.

MonkeyD

Email: [email protected]

Liên hệ hỗ trợ: https://www.fb.com/monkeyd.vn

DMCAPROTECTED

Mọi thông tin và hình ảnh trên website đều được bên thứ ba đăng tải, MonkeyD miễn trừ mọi trách nhiệm liên quan đến các nội dung trên website này. Nếu làm ảnh hưởng đến cá nhân hay tổ chức nào, khi được yêu cầu, chúng tôi sẽ xem xét và gỡ bỏ ngay lập tức. Các vấn đề liên quan đến bản quyền hoặc thắc mắc khác, vui lòng liên hệ fanpage: MonkeyD.