Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 356: Dầu Cải Lâm Hà Và Những Thay Đổi Ngọt Ngào
Cập nhật lúc: 12/01/2026 15:19
Kể từ khi đại đội Lâm Hà ép được dầu hạt cải, cuộc sống nơi đây đã thay đổi rõ rệt, những thay đổi ấy hiện hữu ngay trước mắt.
Dễ nhận thấy nhất là trong cách chế biến món cá. Trước kia, người dân chỉ luộc cá với nước lã vì tiếc dầu. Giờ đây, dù vẫn chưa dám dùng dầu hào phóng, nhưng ít nhất họ đã có thể chiên cá vàng ruộm hai mặt. Món canh cá nấu đậu phụ với nước dùng trắng như sữa trở nên phổ biến. Vùng này không thiếu gừng, hành, tỏi, lại trồng xen canh khoai lang và đậu nành nên đậu phụ, đậu phụ khô cũng sẵn. Canh cá trắm nấu đậu phụ, cá mè hoa hầm đậu phụ, cá mè chiên đậu phụ... những món ăn dân dã mà thơm ngon này bỗng chốc trở thành mỹ vị không thể thiếu trên mâm cơm của mọi gia đình ở Lâm Hà.
Sự thay đổi này càng rõ rệt hơn ở trường Tiểu học ven sông. Một nửa học sinh trong trường đến từ vùng núi sâu, nơi đất cằn người thưa, ăn no đã khó chứ đừng nói đến chuyện có dầu ăn. May mắn thì săn được con thỏ rừng, lợn rừng để có chút mỡ động vật, còn không thì quanh năm suốt tháng chẳng biết mùi dầu mỡ là gì.
Giờ đây, khi bữa ăn có thêm chút chất béo, đám trẻ vốn gầy gò như que diêm bỗng chốc có da có thịt hơn hẳn, sắc mặt cũng hồng hào, tươi tắn lên trông thấy.
Sau vụ thu hoạch cải dầu bội thu, hầu như nhà nào ở Lâm Hà cũng được chia phần dầu. Không biết có phải nhờ nguồn cung từ Lâm Hà hay không mà các giao dịch mua bán dầu trên chợ đen cũng trở nên sôi động hơn.
Siêu thị của Diệp Băng Lan thực ra vẫn còn rất nhiều dầu ăn dự trữ. Trước đây, khi thị trường khan hiếm, cô chẳng dám lấy ra. Sự thiếu hụt dầu là tình trạng chung của cả nước. Nếu cô lén tuồn ra vài cân, mười cân thì không sao, nhưng số lượng lớn chắc chắn sẽ gây chú ý, thậm chí dẫn đến điều tra. Sự việc mà vỡ lở thì không chỉ cô mà cả cha mẹ cô cũng bị liên lụy.
Cô luôn ghi nhớ thân phận hiện tại của mình, và bài học đắt giá từ bi kịch của Bạch Hạnh càng khiến cô cảnh giác hơn bao giờ hết.
Tiếp theo là việc thành lập nhà máy chè của đại đội Lâm Hà.
Do sự cản trở của Chủ nhiệm Lưu, thủ tục phê duyệt nhà máy chè bị kéo dài mãi đến tháng Sáu mới có kết quả từ Ngô Thành, khi mà vụ chè xuân (cả Minh Tiền và Minh Hậu) đã gần kết thúc.
Kế hoạch xuất khẩu chè thông qua công ty thương mại quốc doanh và tham gia hội chợ chè năm nay coi như phá sản. Biện pháp tình thế là nhanh ch.óng thu mua lá chè đã hái, sơ chế rồi chuyển giao cho nhà máy chè cấp tỉnh.
Cùng với quyết định phê duyệt là sự hỗ trợ về vốn, thiết bị và nhân viên kỹ thuật từ cấp trên.
Không biết các bên đấu đá, thỏa hiệp thế nào, nhưng kết quả là cấp trên sẽ điều động một nhóm nhân viên quản lý xuống, còn các vị trí chủ chốt như xưởng trưởng và tổng kỹ thuật viên thì để cho công xã Thủy Phụ tự đề cử.
Vì vùng núi Ngũ Công Sơn hiện tại chưa trồng chè (hoặc mới trồng chưa cho thu hoạch ngay), nguồn chè chủ yếu vẫn đến từ núi Lò của đại đội Lâm Hà, nên nhà máy chè của công xã Thủy Phụ tạm thời được đặt tại vị trí trung gian giữa thôn Giang gia và thôn Tiểu Giang.
Thực ra cả thôn Hứa gia và thôn Giang gia đều không có quỹ đất đủ tốt để xây nhà máy. Năm xưa, cũng vì đất chật người đông nên một nhánh họ Giang mới phải tách ra, lập nên thôn Tiểu Giang.
Việc nhà máy chè được đặt tại Lâm Hà mang lại ý nghĩa to lớn. Người dân miền núi, vốn có truyền thống xuống núi hái chè thuê cho địa chủ Giang từ hàng chục năm trước, nay lại có cơ hội kiếm thêm thu nhập.
Những người đi hái chè thuê chủ yếu là phụ nữ, trẻ em và người già. Thu nhập tăng lên đồng nghĩa với việc vị thế và tiếng nói của họ trong gia đình cũng được nâng cao. Hơn nữa, việc được tiếp xúc với thế giới "bên ngoài" sẽ giúp phụ nữ miền núi mở mang tầm mắt. Ít nhất họ cũng biết rằng nếu bị bạo hành, họ có nơi để kêu cứu, có người đứng ra bảo vệ. Và nếu cùng đường, trên núi Lò vẫn còn những ngôi nhà đá do địa chủ Giang xây dựng năm xưa để họ tạm lánh, nơi mà không ai dám bén mảng tới bắt nạt họ.
Bởi núi Lò là địa bàn của đại đội Lâm Hà.
Người được chọn phụ trách việc xây dựng nhà máy chè là Hạ Vân Chi, vợ của Giang Thiên Vượng. Bà được chọn không chỉ vì là vợ quan chức, mà còn bởi quá khứ từng là đại nha hoàn thân tín bên cạnh bà chủ nhà địa chủ Giang. Bà không chỉ thạo việc quản gia mà còn biết chữ, biết tính toán.
Vị trí kỹ thuật viên xào chè được giao cho một người phụ nữ khác ở thôn Giang gia, thường gọi là thím Cửu Lý Hương (hay thím Giang). Bà chính là người từng đến gặp Hứa Minh Nguyệt để xin cưới cô cho cậu em chồng cao mét tư hồi cô mới xuyên không đến. Tên thật Cửu Lý Hương của bà từ thời làm nha hoàn cho nhà địa chủ Giang giờ ít ai biết đến.
Bà lớn lên trong nhà họ Giang, tuy không phải quản sự nhưng từ nhỏ đã theo người làm đi hái chè, xào chè nên tay nghề rất thành thạo. Cả đại đội Lâm Hà hiếm ai có kỹ thuật xào chè đều lửa, dậy hương và đẹp mắt như bà.
Chè Lâm Hà cũng chia làm hai loại: trà Minh Tiền (hái trước tiết Thanh Minh) và trà Minh Hậu (hái sau tiết Thanh Minh). Trà Minh Tiền là những b.úp non mới nhú, màu xanh biếc, hương thơm nồng nàn. Trà Minh Hậu, sau những cơn mưa xuân, lá chè phát triển nhanh, to bản và thưa hơn. Tuy vẫn thơm nhưng cách chế biến hai loại trà này hoàn toàn khác nhau.
Hứa Minh Nguyệt dù lớn lên ở vùng này, biết hái chè xào chè nhưng những kỹ thuật tinh xảo để xử lý trà Minh Tiền và Minh Hậu thì cô chịu. Việc này phải giao cho người có chuyên môn như thím Giang.
Đa số người dân địa phương cũng chỉ biết sơ sơ như Hứa Minh Nguyệt. Những bí quyết gia truyền của nhà địa chủ Giang không phải ai cũng nắm được. Đó là lý do thím Cửu Lý Hương được mời làm kỹ thuật viên chủ chốt.
Bên cạnh đó, Hứa Kim Hổ cũng đã cho người nhắn tin, nhờ Giang Thiên Vượng ở thành phố dò la tin tức về cô con gái út đi lấy chồng xa của địa chủ Giang.
Giang Thiên Vượng lớn hơn cô con gái út nhà địa chủ Giang mười mấy tuổi. Khi ông đi bộ đội, cô ấy mới chập chững biết đi. Khi ông trở về thì cô ấy đã đi lấy chồng, nên ông cũng không rõ mặt mũi cô ấy ra sao.
Trong thời đại nhạy cảm này, việc tìm kiếm con cái địa chủ phải tiến hành bí mật, không thể khua chiêng gõ trống.
Vì không nhớ mặt, Giang Thiên Vượng phải nhờ một người đàn ông trung niên gầy gò nhưng rắn rỏi trong thôn, có họ hàng xa lắc xa lơ với nhà địa chủ Giang (tính ra là anh em họ xa với cô con gái út) đi nhận diện.
Người đàn ông này khoảng 30 tuổi, khuôn mặt nhỏ thó chỉ bằng bàn tay, ngũ quan cũng nhỏ nên có biệt danh là "Lão Thử" (Chuột).
Anh ta tính tình thật thà, chất phác. Vừa nghe tin đi tìm cô em họ, ngồi trên thuyền anh ta đã rưng rưng nước mắt. Gia đình anh ta trước kia rất thân thiết với nhà địa chủ Giang, từ nhỏ anh ta đã làm việc cho họ. Cả thôn Giang gia, thậm chí cả vùng này, ít ai không chịu ơn địa chủ Giang. Riêng việc hái chè thuê mỗi vụ xuân đã nuôi sống bao nhiêu gia đình.
Ngày thường không dám nhắc tới vì sợ bị quy là phú nông, bị đấu tố, mọi người đều phải sống thu mình lại. Giờ nghe nói đi tìm cô em họ, anh ta lại chạnh lòng nhớ đến người bác họ bị đ.á.n.h đến tan cửa nát nhà.
"Bao nhiêu năm rồi không ai dám đi tìm, không biết cô ấy giờ sống c.h.ế.t ra sao." Những năm tháng kinh hoàng đó, ai cũng sợ vạ lây nên tránh xa như tránh tà.
Đó là dòng thác lũ của thời đại, ai dám cản đường đều bị nghiền nát.
Đến Ngô Thành gặp Giang Thiên Vượng, đôi mắt vốn đã nhỏ của anh ta sưng húp vì khóc. Giang Thiên Vượng bực mình quát: "Khóc cái gì mà khóc? Gọi chú mày đến là để đi nhận người. Mười mấy năm không gặp, chú mày còn nhớ nhà cô ấy ở đâu không?"
Người đàn ông trung niên vội lau nước mắt, gật đầu lia lịa: "Nhớ, em nhớ chứ. Hồi xưa em từng theo... ông bác đi đưa chè lên thành phố, có ghé qua nhà cô ấy. Nhà cô ấy ở..."
Nhớ đến gia thế nhà chồng cô em họ, anh ta bỗng im bặt, sắc mặt ảm đạm xuống.
Giang Thiên Vượng vỗ vai anh ta: "Cũng may là cô ấy không lấy chồng ở Ngô Thành!" Nếu không, rơi vào tay Chủ nhiệm Lưu, e rằng giờ này cô ấy đã thành nắm đất vàng rồi. Giang Thiên Vượng có muốn tìm cũng không dám.
Ở thành phố, thế lực của Chủ nhiệm Lưu chưa vươn tới được, nên việc dò la tin tức sẽ an toàn và kín đáo hơn.
Tai mắt của Chủ nhiệm Lưu vẫn luôn giám sát Giang Thiên Vượng, nên ông không trực tiếp đi mà viết giấy giới thiệu để người đàn ông trung niên tự đi bằng đường thủy.
Từ Ngô Thành lên thành phố không xa, đi xe tải mất hai tiếng, đi thuyền cũng tầm đó thời gian.
Đến ngoại ô thành phố, người đàn ông giấu thuyền vào bụi lau sậy, mang theo ít chè Lâm Hà làm quà, tìm đến địa chỉ nhà chồng cô em họ.
Dù đã chuẩn bị tinh thần, nhưng khi gõ cửa ngôi nhà xưa cũ và người ra mở cửa là những người hoàn toàn xa lạ, lòng anh ta vẫn nặng trĩu như đeo chì. Anh ta biếu gói chè và dò hỏi tung tích gia đình chủ cũ.
"C.h.ế.t cả rồi!" Một người phụ nữ trung niên sống trong ngôi nhà đó nhìn anh ta với ánh mắt tò mò, soi mói những nếp nhăn và khớp tay thô ráp của người lao động: "Ông là gì của nhà họ thế?"
Tim người đàn ông thắt lại, định quay đi thì người phụ nữ nói tiếp: "Hai ông bà già c.h.ế.t lâu rồi. Cậu con trai cũng tự t.ử c.h.ế.t. Còn cô con dâu thì hóa điên, giờ ngủ vạ vật ở khu nhà vệ sinh công cộng đằng kia kìa." Bà ta chỉ tay về phía xa xa: "Nghe đâu đứa con cũng c.h.ế.t rồi thì phải. Ngày nào cô ta cũng ôm cái bọc rách như ôm con, ai động vào là c.ắ.n xé, người hôi như cú. Chậc, cũng tội nghiệp!"
Người đàn ông không biết người phụ nữ điên kia có phải em họ mình không, nhưng không dám chậm trễ, vội vàng đi về hướng được chỉ dẫn.
Anh ta không dám đường hoàng tìm kiếm, mà lén lút quan sát xem người phụ nữ điên đó có phải là Giang Tâm Liên hay không.
Khi nhìn thấy người phụ nữ đó, anh ta sững sờ hồi lâu, không dám tin vào mắt mình.
Trong ký ức của anh ta, cô em họ Giang Tâm Liên mới 15-16 tuổi, hoạt bát, dạn dĩ. Là con gái út được cưng chiều, cô thường theo cha chạy nhảy khắp đồi chè. Khi mọi người hái chè, cô hái hoa đỗ quyên kết thành vòng hoa đội lên đầu. Hình ảnh cô bé với vòng hoa đỏ rực, cười nói rộn ràng giữa những luống chè xanh ngát đã khắc sâu vào tâm trí anh ta.
Nhưng sinh vật đang khom lưng, còng rạp người trước mắt kia không còn ra hình người nữa. Trông bà ta như một con vật hoang dã, mái tóc hoa râm thưa thớt rũ rượi che kín khuôn mặt. Bà ta mặc bộ quần áo đen kịt, rách rưới, cáu bẩn, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Tay chống gậy gỗ, trong lòng ôm khư khư một cái bọc vải rách như ôm báu vật, miệng lẩm bẩm điều gì đó. Đứng từ xa không nghe rõ nội dung, nhưng anh ta nhận ra rõ ràng chất giọng thổ ngữ đặc trưng của vùng Lâm Hà.
Nước mắt anh ta trào ra, đôi môi run rẩy gọi khẽ bằng tiếng quê hương: "Tâm Liên?"
Cái bóng nhỏ bé, lầm lũi phía trước bỗng khựng lại. Vài giây sau, tiếng lẩm bẩm lại tiếp tục vang lên như chưa từng nghe thấy gì. Bà ta tiếp tục chống gậy, bước từng bước khó nhọc về phía nhà vệ sinh công cộng, cầm lấy cái chổi tre dựng ở góc tường, bắt đầu quét tước một cách vô thức.
Nhà vệ sinh công cộng thời này cực kỳ bẩn thỉu. Cái chổi tre quét trên nền đất để lại những vệt dài nham nhở.
Bà ta vừa quét vừa di chuyển ra phía sau nhà vệ sinh, nơi có hố phân ủ lộ thiên, xung quanh cỏ dại mọc um tùm.
Người đàn ông trung niên nấp sau bụi cây, lén lút tiến lại gần. Đến khi nấp kỹ sau đám cỏ, anh ta mới run run gọi lại lần nữa: "Tâm Liên? Có phải em là Tâm Liên không?"
Trong ký ức của anh ta, Giang Tâm Liên tuy không cao lớn nhưng cũng không đến nỗi thấp bé. Nhưng cái sinh vật đen đúa, gù gập người như người rừng trước mắt này, nếu không phải đang cử động và biết quét rác, anh ta thật không dám tin đó là một con người.
