Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 408
Cập nhật lúc: 14/01/2026 10:14
Bị cô quan tâm đột ngột, Giang Tâm Liên cứng đờ cả người.
Đã nhiều năm rồi.
Từ khi bị đấu tố là vợ địa chủ, nhà tư bản, để tránh bị những kẻ đó sỉ nhục, bà cố tình làm cho mình hôi hám bẩn thỉu. Mấy chục năm nay, bà chưa từng được ai chạm vào, cũng chưa từng được ai quan tâm gần gũi đến thế.
Một dòng nước nóng hổi trào lên trong mắt, bà ngửa đầu nhìn bầu trời xanh thẳm, ánh nắng ch.ói chang càng làm đôi mắt vốn đã mờ đục của bà thêm nhòe đi.
Bà muốn đẩy tay Hứa Minh Nguyệt ra, nhưng cánh tay nặng trĩu như đeo chì, không sao nhấc lên nổi. Bà chỉ nghẹn ngào nói: “Đây là bí quyết gia truyền mấy đời của nhà họ Giang chúng tôi, nếu cô thực sự muốn...”
Hứa Minh Nguyệt cười ngắt lời: “Ai lại lấy không công nghệ của nhà chị chứ? Chị Giang Cửu Lý Hương cũng dùng kỹ thuật để vào xưởng trà làm kỹ thuật viên nòng cốt. Chị Tâm Liên cũng dùng kỹ thuật của mình vào xưởng làm kỹ thuật viên nòng cốt, thấy thế nào? Vừa hay hai người mỗi người phụ trách một tổ: chị Cửu Lý Hương phụ trách trà Minh Tiền, chị Tâm Liên phụ trách trà sau Thanh Minh. Ngoài công điểm làm trên đồi chè, chị sẽ được tính thêm một phần lương. Kỹ thuật của chị là độc nhất vô nhị, nên lương sẽ tính theo mức cao nhất của đại đội, ngang bằng với lương Đại đội trưởng, chị thấy sao?”
Đại đội trưởng đại đội Lâm Hà là cán bộ cấp 25, tương đương với cán sự cấp 7, lương tháng 38 đồng, chưa tính các loại tem phiếu.
Giang Tâm Liên sững sờ, nhìn Hứa Minh Nguyệt đầy vẻ không tin, bàn tay bám c.h.ặ.t lấy cánh tay cô.
Đang là cuối xuân, Hứa Minh Nguyệt mặc áo ngắn tay bên trong, khoác ngoài chiếc áo mỏng màu xám. Móng tay Giang Tâm Liên bấm sâu vào da thịt cô, bà mở to mắt hỏi lại: “Cô nói thật chứ?”
Giang Tam Trụ đứng bên cạnh vui quá hóa ngẩn ngơ, vỗ đùi đ.á.n.h đét một cái: “Thật! Lời Thư ký Hứa nói làm sao có giả được! Thế này thì tốt quá rồi, Tâm Liên à, nửa đời sau của em có hy vọng rồi!”
Vì thân phận con gái địa chủ, Giang Tâm Liên hiện tại ở đại đội Lâm Hà đến hộ khẩu cũng không có, cả ngày trốn chui trốn lủi trên đồi chè, không dám xuống núi. Đâu phải ai cũng biết trước tương lai như Hứa Minh Nguyệt.
Giang Tam Trụ và Giang Tâm Liên không nhìn thấy tương lai. Mười mấy năm sống trong tuyệt vọng đã khiến Giang Tâm Liên chẳng còn chút hy vọng nào vào ngày mai, chỉ thấy một màu đen tối mịt mùng, lại còn liên lụy đến đứa trẻ trong lòng.
Nhưng lời nói của Hứa Minh Nguyệt lúc này như mở ra một cánh cửa giữa màn đêm vô tận, ánh sáng rực rỡ ùa vào xua tan bóng tối, chiếu rọi tất cả.
Giang Tâm Liên siết c.h.ặ.t cánh tay Hứa Minh Nguyệt, móng tay bấm vào da thịt mà không hề hay biết, mắt nhìn chằm chằm cô, lặp đi lặp lại: “Cô không được lừa tôi! Cô không được lừa tôi! Cô mà dám lừa tôi, tôi có hóa thành lệ quỷ cũng tìm cô tính sổ!”
Hứa Minh Nguyệt nhẹ nhàng ôm lấy bà, vỗ về tấm lưng gầy guộc: “Sẽ ổn thôi, mọi chuyện sẽ ổn thôi, chị cũng sẽ ổn thôi. Quá khứ đã qua rồi, đều qua cả rồi.”
Hàm răng Giang Tâm Liên va vào nhau lập cập, bà cố nén cơn xúc động muốn gào khóc nức nở.
Đợi Hứa Minh Nguyệt xuống núi, bà mới bế đứa con nuôi đi ra mộ cha mẹ dưới chân núi, khóc gọi từng tiếng: “Cha ơi! Mẹ ơi!”
Bà khóc như muốn trút hết mọi oán hận chất chứa trong lòng, như muốn xả hết nỗi đau đớn tâm can suốt bao năm qua.
Mấy ông bà lão đang nấu cơm trên tảng đá đỉnh núi Lò nghe tiếng khóc ẩn hiện dưới chân núi, tay vẫn không ngừng thêm củi vào bếp.
Để tránh cháy rừng, cỏ khô củi vụn xung quanh đã được dọn sạch sẽ, chỉ còn trơ lại những tảng đá lớn.
Đây không phải lần đầu Giang Tâm Liên xuống núi khóc mộ.
Mộ phần gia đình địa chủ Giang nằm sâu trong núi hoang. Trẻ con dưới chân núi thường xuyên nghe thấy tiếng khóc văng vẳng vọng ra.
Vốn dĩ núi hoang nhờ có nhà Hứa Minh Nguyệt, trạm y tế và điểm thanh niên trí thức nên có hơi người, mọi người đã dần quên truyền thuyết “núi hoang có ma”. Nhưng đợt này vừa qua tiết Thanh Minh, họ lại bắt đầu nghe thấy tiếng khóc t.h.ả.m thiết vọng ra từ trong núi. Tiếng khóc lẫn trong gió núi u uất, đứt quãng, khiến trẻ con đại đội Lâm Hà mỗi lần đi qua núi hoang đều chạy bán sống bán c.h.ế.t, sợ bị ma ám.
Có người trong thôn không biết Giang Tâm Liên đã được đón về, tưởng trên núi có ma thật. Người nhát gan sợ không dám ra cửa, kẻ to gan thì cầm xẻng định lên núi đ.á.n.h sơn tiêu, tinh quái.
Sơn tiêu chẳng thấy đâu, chỉ thấy một bóng người mặc đồ trắng, cài hoa trắng, thấp thoáng ẩn hiện giữa rừng cây âm u, dọa cho người đó suýt bủn rủn chân tay, về nhà đồn ầm lên là gặp ma thật.
“Nữ quỷ áo trắng” trên núi chính là Giang Tâm Liên.
Từ khi trở về, bà thường xuyên ra mộ khóc lóc.
Bao nhiêu oán khí chất chứa trong lòng không nơi phát tiết. Cha mẹ qua đời bao năm, bà đến việc về quê chịu tang cũng không làm được. Giờ được yên ổn ở đại đội Lâm Hà, bà mặc đồ tang trắng suốt ngày, một là để chịu tang cha mẹ, hai là để cho lãnh đạo địa phương thấy bà và cả nhà họ Giang đã chịu oan ức thế nào.
Mỗi khi nghĩ đến điều đó, bà lại đau thấu tim gan, ra trước mộ cha mẹ khóc xé lòng, rồi lại quay về sống tiếp những ngày tháng của mình.
Lần này Hứa Minh Nguyệt mời bà làm kỹ thuật viên nòng cốt xưởng trà, trong niềm vui sướng xen lẫn tủi hờn, bà lại ra mộ cha mẹ kể lể một hồi. Bà không nói chuyện kiểu bình thường, mà vừa khóc vừa kể lể như hát tuồng, giọng điệu du dương, ai oán, lại dọa người dưới chân núi một phen khiếp vía.
Nhưng sau lần đó, bà rất ít khi đi khóc mộ nữa.
Người dưới chân núi thấy tiếng khóc nữ quỷ im bặt, cho rằng Thanh Minh đã qua, nữ quỷ nhận được tiền vàng nên đã quay về âm phủ. Từ đó đại đội Lâm Hà lại có thêm một truyền thuyết ma quỷ trong núi sâu, được thêu dệt ly kỳ như thật.
Có kỹ thuật của Giang Tâm Liên, xưởng trà đại đội Lâm Hà gấp rút tiến hành hái và sao chế trà vụ sau Thanh Minh.
Lúc này cũng là mùa thu hoạch cải dầu và lúa mì vụ đông. Hứa Minh Nguyệt giữ đúng lời hứa, cải dầu thu hoạch xong được đưa sang xưởng ép dầu thành phố lân cận, thùng dầu đầu tiên ép ra, bao bột mì đầu tiên xay được, cô liền bảo Giang Tam Trụ mang lên cho Giang Tâm Liên, kèm theo đó là 50 quả trứng gà.
Giang Tâm Liên nhìn thấy trứng gà, vừa mừng vừa bĩu môi: “Cho tôi trứng gà làm gì? Xa xôi thế này, chẳng lẽ ngày nào cũng bắt người ta mang trứng lên à? Chi bằng bắt cho tôi mấy con gà con, tôi rào lại một góc nuôi ở sân sau, còn sợ không có trứng ăn sao?”
Giang Tam Trụ thấy bà như vậy cũng mừng thay, vội xuống núi báo cáo với Giang Kiến Quân. Hứa Minh Nguyệt sau khi giải quyết xong chuyện công nghệ sao trà thì đã về công xã Thủy Phụ, không có ở đại đội Lâm Hà.
Giang Kiến Quân nghe Giang Tâm Liên muốn nuôi gà, liền bảo Giang Tam Trụ mang lên cho bà mười mấy con gà con: “Nếu bà ấy chê nhiều thì anh mang số còn lại chia cho mấy bác trai họ Giang trên đó.”
Từ khi Hứa Minh Nguyệt đồng ý cho Giang Tâm Liên làm kỹ thuật viên nòng cốt, bà như biến thành một người khác. Tuy mặt mày vẫn âm trầm, lời nói có phần cay nghiệt, nhưng không còn c.h.ử.i bới suốt ngày nữa. Thỉnh thoảng trên gương mặt lạnh lùng còn thoáng nét cười. Căn nhà đá trên núi của bà vốn là một phần của xưởng trà cũ, giờ trà sau Thanh Minh mới hái được chuyển thẳng đến đó để bà chế biến. Bà dùng công điểm kiếm được để đổi sữa bột cho con nuôi.
Bà nuôi sáu con gà ở sân sau, mười con còn lại do mấy ông bà lão trên núi nuôi. Vì ở trên núi hẻo lánh nên không ai quản việc hạn chế mỗi hộ chỉ được nuôi hai con gà. Miễn là không bị sói tha đi thì muốn nuôi bao nhiêu cũng được. Trứng gà đẻ ra, bà và đứa bé cùng ăn, bà ăn trứng luộc, đứa bé ăn canh trứng.
Vốn xuất thân là tiểu thư nhà địa chủ, bà không có thói quen của những nông phụ bình thường là có đồ ngon thì cất đi dành dụm không dám ăn. Bà biết cơ thể mình thiếu hụt dinh dưỡng trầm trọng nên trong chuyện ăn uống không hề ngược đãi bản thân. Hơn nữa bà có kỹ thuật lên men trà sau Thanh Minh, không chỉ có công điểm mà còn có lương, thu nhập đủ để bà và đứa bé sống thoải mái.
Chương 363
Cùng với việc diện tích trồng lúa mì ở chân núi tăng lên hàng năm, bữa ăn hàng ngày của người dân đại đội Lâm Hà cũng trở nên phong phú hơn. Thay đổi lớn nhất là ngoài cơm gạo tẻ, bữa sáng giờ có thêm bánh bột mì áp chảo, bữa tối có thêm mì cán tay.
Bánh bột mì áp chảo rất dễ làm. Dùng miếng vải thấm dầu lau qua chảo sắt, đổ một lớp bột mì đã hòa nước láng mỏng dưới đáy chảo, lật lên là có ngay chiếc bánh vàng ươm, giòn rụm. Món này rất thích hợp cho những ngày mùa bận rộn không có nhiều thời gian nấu nướng, lại cần ăn no bụng vào buổi sáng, nên được đa số các gia đình địa phương lựa chọn.
Trước vụ gặt hái, có một khoảng thời gian nông nhàn, trên bàn cơm tối của các gia đình xuất hiện nhiều món từ bột mì. Ai biết cán bột thì làm mì sợi, không biết thì làm bánh canh.
Mì cán tay làm từ bột mì nguyên chất không pha cám, cắt thành sợi dài to bản, thả vào nồi nước sôi luộc chín, chỉ cần thêm chút mỡ lợn và rau xanh là thơm nức mũi. Món ăn này trở thành ký ức ấm áp nhất về gia đình, về mẹ, về tuổi thơ của những đứa trẻ thời đại này. Mãi sau này lớn lên đi xa, khi trở về quê hương, thứ chúng nhớ nhung nhất vẫn là bát mì cán tay của mẹ.
Cũng có người thử làm bánh bao ủ men.
Đáng tiếc nơi đây thuộc miền Nam, ít người biết làm món này, nên nhiều người học đòi làm theo nhưng bánh bao ra lò cứng như đá, ăn chán vô cùng.
Sau vụ thu hoạch lúa mì vụ đông năm nay, Triệu Hồng Liên cũng bày vẽ làm bánh bao và mì cán tay chiêu đãi cả nhà, còn nhiệt tình mời A Cẩm sang ăn.
Đối với trẻ con nông thôn, đây quả thực là món ngon hiếm có.
A Cẩm vốn tính nhiệt tình, ai mời gì cũng hăng hái ủng hộ. Kết quả c.ắ.n một miếng bánh bao do bác gái làm, suýt chút nữa gãy răng.
Cô bé vẫn giữ thể diện, lúc đó không dám chê bánh bao bác làm cứng như sắt, chỉ dám về nhà cười ngặt nghẽo kể với Hứa Minh Nguyệt: “Bánh bao bác cả làm y hệt cục đá, thế mà anh Ái Quốc, Ái Đảng vẫn khen ngon. Chắc tại mấy ổng chưa được ăn bánh bao mẹ làm bao giờ!”
Cô bé không hiểu nổi, cùng là bánh bao mà sao bác cả làm vừa cứng vừa khô vừa khó nuốt, còn mẹ làm thì trắng trẻo, mềm xốp, thơm ngọt, càng ăn càng ghiền.
Hứa Minh Nguyệt liếc con gái một cái. Con bé đâu biết cô đã cho những gì vào bánh bao: sữa bò, đường trắng, lại còn ủ men đúng cách, làm sao mà không thơm nức mũi, ngọt mềm cho được?
Hôm nay là cuối tuần hiếm hoi được nghỉ ngơi. Công việc ở xưởng trà, cày bừa vụ xuân, nuôi cá ruộng lúa, thu hoạch cải dầu và lúa mì vụ đông đều đã xong xuôi. Việc trồng khoai lang thì các đội trưởng sản xuất tự lo liệu được, Hứa Minh Nguyệt không cần bận tâm, nên cô tranh thủ về đại đội Lâm Hà chơi với A Cẩm.
Đợi mẻ bánh bao hấp xong, Hứa Minh Nguyệt lót tấm vải sạch vào hai cái giỏ tre, xếp đầy bánh bao vào. Một giỏ cô mang sang biếu bác sĩ Trương, tiện thể cho đám học trò ở trạm y tế nếm thử.
Trong số học trò này chỉ có sáu đứa là người đại đội Lâm Hà, sáu đứa còn lại đến từ đại đội Hòa Bình, Kiến Thiết và vùng núi sâu. Những nơi đó chưa được ăn gạo trắng và bánh bao thoải mái như ở đây, lương thực hàng ngày vẫn phải độn rau dại và cám. Bánh bao họ ăn toàn là loại bánh bao đen sì đầy cám, cứng như đá mà A Cẩm vừa chê bai.
Không phải người địa phương không biết làm bánh bao, mà là thiếu men nở, và kỹ thuật cũng có hạn.
Mấy chục cái bánh bao trắng ngần, thơm phức vừa mang đến trạm y tế đã bị đám thanh niên đang tuổi ăn tuổi lớn tranh cướp sạch sành sanh. Đứa nào đứa nấy ôm cái bánh bao thơm mùi sữa gặm ngon lành, mắt cười tít lại.
Bác sĩ Trương đi ra cười mắng Hứa Minh Nguyệt: “Cô cứ chiều hư bọn nó đi!”
Buổi tối trạm y tế nấu cháo trắng.
Bác sĩ Trương cắm chốt ở đại đội Lâm Hà dạy nghề cũng được tính công điểm, đám học trò này được bao ăn ở, thiếu đâu Hứa Minh Nguyệt sẽ tự bỏ tiền túi ra trợ cấp thêm cho bác sĩ Trương.
