Gả Nhầm Cho Đại Lão Văn Niên Đại - Chương 108
Cập nhật lúc: 17/04/2026 04:00
Từ đường ray tàu hỏa leo núi chuyển sang đường rừng gập ghềnh, lội bộ ròng rã thêm mấy tiếng đồng hồ nữa, nhóm ba người mới tìm được một bãi đất tương đối bằng phẳng, kín gió và nằm gần nguồn nước để hạ trại.
Chuyện hệ trọng đầu tiên khi dừng chân không phải là dỡ đồ nghỉ ngơi, mà là phải dựng Lão Gia Phủ để cúng bái Sơn thần. "Nhập gia tùy tục", ráng làm mấy chuyện này cốt cũng để cầu may mắn, ngộ nhỡ lặn lội trên núi mấy ngày trời mà trắng tay về không thì xui xẻo biết bao nhiêu.
Ba hòn đá nhặt quanh quẩn, dựng hai hòn hai bên, bắc ngang hòn còn lại lên trên là thành Lão Gia Phủ.
Kỳ Phóng vun một đụn đất nhỏ phía trước Lão Gia Phủ, lấy ba cọng cỏ khô cắm làm hương rồi châm lửa đốt. Ba người lần lượt tiến lên vái lạy Sơn thần, đặc biệt là Nghiêm Kế Cương, cậu bé chắp đôi bàn tay bé xíu vái lạy vô cùng thành tâm.
*Sơn Thần gia gia phù hộ, Lão bả đầu phù hộ, xin hãy cho chúng con đào được một củ nhân sâm "đại bổng chùy" mang về bán kiếm được thật là nhiều tiền, nhiều ơi là nhiều tiền!*
Khấn vái xong xuôi, cậu thiếu niên mới sực nhớ ra một chuyện, bèn rụt rè kéo áo chị gái hỏi nhỏ: "Chị ơi, Lão... Lão bả đầu là ai thế ạ?"
Ban đầu Nghiêm Tuyết cũng thắc mắc về cái tên này y hệt em trai. Trước đây cô từng lên mạng tra cứu tư liệu: "Đó là thủy tổ khai sơn của nghề đào sâm, tên là Tôn Lương. Đám thợ đào sâm tôn kính nên thường gọi là 'Tôn Lương gia', hoặc 'Tham bả đầu', 'Lão bả đầu'."
Tương truyền vị thủy tổ này sống vào giai đoạn cuối Minh đầu Thanh. Vì muốn tìm t.h.u.ố.c chữa bệnh cho mẹ già, ông đã mạo hiểm vào tận rừng sâu hái sâm. Trớ trêu thay, vì mải mê đi tìm người anh em kết nghĩa tên Trương Lộc bị lạc, ông cuối cùng đã c.h.ế.t đói giữa rừng sâu nước thẳm.
Giới đào sâm suy tôn ông, nguyên do lớn nhất là nể phục lòng trọng tình trọng nghĩa của ông. Hai người đồng hương kết nghĩa vào sinh ra t.ử để đào sâm, không may lạc mất nhau chỉ vài ngày trước khi xuất sơn. Tôn Lương đã không nhẫn tâm tự mình thoát thân, ông quyết ở lại bôn ba tìm kiếm Trương Lộc để cùng về, kết cục bị cái đói khuất phục, gục c.h.ế.t bên dòng sông Lạp Cốc (sông Càng Cua).
Bạc tiền vốn là thứ dễ làm mờ mắt con người. Xưa kia, dân buôn sâm thà liều mạng thân cô thế cô độc hành vào rừng chứ tuyệt nhiên không bao giờ đi cặp hai người. Bọn họ kiêng kỵ ngộ nhỡ đào được củ sâm quý giá quá, lòng tham nổi lên sẽ sinh cớ sát hại nhau.
Về Tôn Lương, nơi quê nhà ông ở Lai Dương (Sơn Đông) cùng vùng núi Trường Bạch này còn lưu truyền một bài thơ tuyệt mệnh:
*"Nhà ở Lai Dương, họ vốn Tôn,*
*Vượt biển trèo non, bước dặm trường.*
*Lạc mất anh em nơi rừng thẳm,*
*Dọc dòng Lạp Cốc mãi tìm phương.*
*Ba ngày cầm cự nhai tôm tích,*
*Không thấy huynh đệ, dạ khôn lường."*
Nghiêm Tuyết chậm rãi kể lại câu chuyện cho Nghiêm Kế Cương nghe. Cậu bé nghe xong, gương mặt nhỏ nhắn tỏ rõ nét nghiêm trang cung kính. Cậu nhóc lạch bạch chạy lại trước bàn thờ đá vái thêm vài vái, độ thành khẩn còn tăng lên gấp bội so với ban nãy.
Dựng lán xong xuôi thì mặt trời cũng vừa vặn khuất núi. Ba người lôi mấy tấm da hoẵng ra trải làm nệm lót lưng, nhai qua loa chút lương khô rồi chen chúc vào nhau chuẩn bị chợp mắt.
Nghiêm Kế Cương ngoài miệng cứ bô bô là không sợ, nhưng lần đầu tiên nếm mùi ngủ rừng, lại còn trong cái lán tạm bợ tuềnh toàng thế này, vừa tối trời cậu nhóc đã co rúm người rúc c.h.ặ.t vào lòng chị gái.
Nghiêm Tuyết cũng chẳng lấy làm lạ, vòng tay ôm trọn em trai vào lòng. Kỳ Phóng thì từ phía sau dang tay ôm gọn cả hai chị em, tiện tay vỗ về lên mái tóc mềm của Nghiêm Kế Cương một cái.
Trước sau đều là mùi hương và hơi ấm quen thuộc, lại được nghe chị gái kể chuyện cổ tích, cuối cùng Nghiêm Kế Cương cũng chìm vào giấc ngủ mê mệt.
Sáng hôm sau, trời vừa hửng sáng Kỳ Phóng đã dậy đi xách nước suối về. Ba người đ.á.n.h răng rửa mặt, ăn sáng gọn gàng rồi xếp hàng đứng trước cửa lán chuẩn bị "gọi núi" (hảm sơn).
Mục đích chính của hảm sơn là để đ.á.n.h động xua đuổi dã thú, bảo đảm an toàn cho nhóm người đi tìm sâm. Bởi vậy, quy tắc là phải gào thét càng to càng tốt. Đợi nghi thức gọi núi kết thúc, hành trình "phóng sơn" mới thực sự bắt đầu.
Kỳ Phóng đã cẩn thận chuẩn bị sẵn loại gậy dài chuyên dụng cho nghề "phóng sơn", gọi là "sách bảo côn" (gậy dò bảo vật). Mỗi người lăm lăm một cây, vừa chậm rãi tiến bước vừa dùng gậy vạch cỏ vạch lá, cúi rạp người xuống dò dẫm tìm kiếm từng tấc đất.
Sở dĩ nhân sâm quý hiếm là vì loài cây này kén chọn môi trường sống vô cùng khắc nghiệt, thời gian sinh trưởng lại tính bằng năm bằng tháng đằng đẵng.
Loài cây này ưa bóng râm ghét nắng gắt, thích hanh khô sợ úng ngập, nhưng cũng chẳng thể sống nổi nếu hoàn toàn cạn kiệt nước hoặc thiếu vắng ánh mặt trời. Thế nên, dân "phóng sơn" sành sỏi thường nhắm đến những dải rừng hỗn giao lá kim - lá rộng chưa từng bị khai phá. Ở những nơi đó, ánh sáng lọt qua tán lá vừa vặn đủ dùng, mạch nước ngầm chảy qua không quá gần cũng chẳng quá xa.
Đi được một đoạn, chiếc gậy "sách bảo côn" trong tay Kỳ Phóng đột ngột khựng lại, anh cất giọng hô vang: "Bổng chùy!" (Tiếng lóng chỉ nhân sâm).
Nghiêm Tuyết và Nghiêm Kế Cương vừa nghe thấy tiếng hô, lập tức đồng loạt phóng mắt nhìn theo hướng gậy của anh. Nghiêm Tuyết phối hợp ăn ý, lập tức hô đáp trả: "Mấy phẩm diệp?" (Hỏi số lượng lá).
Động tác này trong nghề gọi là "tiếp sơn" (đáp lại núi), ám chỉ việc hỏi thăm kích cỡ, tuổi đời của củ sâm. Số "phẩm diệp" (số cụm lá) cũng chính là thuật ngữ chỉ số lượng cụm lá kép mọc xòe ra hình chân vịt trên thân nhân sâm.
Khi hạt sâm vừa nảy mầm nhú lên khỏi mặt đất, cuống cây chỉ mọc ra một cụm lá ba thùy, dân gian gọi là "tam hoa".
Sống thêm chút nữa, cụm lá ba thùy chuyển thành năm thùy, trông hệt như một bàn tay nhỏ xíu xòe ra, gọi là "năm lá".
Thân sâm mọc ra hai "bàn tay nhỏ" được gọi tên là "nhị giáp t.ử" (hai cụm lá), ba cụm thì gọi là "tam phẩm diệp" (ba cụm lá), bốn cụm là "tứ phẩm", năm cụm là "ngũ phẩm", sáu cụm là "lục phẩm".
Số cụm lá càng nhiều, năm tuổi càng cao, giá trị của củ nhân sâm càng là con số trên trời.
Tuy nhiên, củ sâm Kỳ Phóng vừa phát hiện rõ ràng là đồ "nhi đồng": "Nhị giáp t.ử."
Bình thường, dân "phóng sơn" đụng phải loại sâm non nớt này đều lờ đi không đào. Họ sẽ để lại một ký hiệu bí mật, vài năm sau quay lại "thu hoạch" tiếp.
Có điều đây là "cú nổ phát s.ú.n.g đầu tiên" mở màn cho chuyến hành trình này, để sổng mất thì cũng xui xẻo. Nghĩ vậy, Kỳ Phóng vẫn dứt khoát lôi ra một dải dây đỏ có buộc sẵn đồng tiền xu hai đầu - dân nghề gọi là "bổng chùy tỏa" (khóa nhân sâm) - rồi thành thạo buộc thắt nút quanh gốc sâm.
Làm thế này là để ngừa sâm "chạy mất". Người bản địa rỉ tai nhau rằng nhân sâm là loài cỏ có linh tính. Nếu không dùng dây đỏ trói lại, có khi lúc thấy lá thì rõ to, lúc cất công hì hục đào lên lại chỉ bằng cái rễ tre, ấy là vì "phần tinh túy" của sâm đã độn thổ chuồn mất rồi.
Thế nên đa phần dân đi rừng lên núi, lận lưng một dải dây đỏ là vật bất ly thân. Không có dây đỏ chuẩn bị sẵn thì xé tạm cái dải rút lưng quần màu đỏ cũng được, cốt để phòng hờ trường hợp gặp được nhân sâm bất ngờ.
Nghiêm Tuyết và Nghiêm Kế Cương xúm xít vây lại gần. Mắt Nghiêm Kế Cương mở to hết cỡ, chằm chằm theo dõi ông anh rể đào sâm.
Bới sâm là một nghệ thuật đòi hỏi sự kiên nhẫn và tỉ mỉ cực độ. Phải hết sức cẩn thận, không được làm xước hay gãy dù chỉ là một cái rễ phụ li ti. Nếu bất cẩn làm đứt rễ, "huyết sâm" (nhựa sâm) rỉ ra ngoài - dân trong nghề gọi là "phóng tương" - thì củ sâm đó sẽ rớt giá thê t.h.ả.m.
Củ sâm này vóc dáng nhỏ bé, nếu mang ra trạm thu mua chắc cũng đổi được vài đồng lẻ. Chẳng tốn quá nhiều thời gian, Kỳ Phóng đã bứng trọn vẹn cả củ lên.
Nghiêm Tuyết đã nhanh nhẹn lót sẵn một lớp rêu xanh mướt cạnh bên. Kỳ Phóng nhẹ nhàng đặt sâm lên t.h.ả.m rêu, vẩy thêm chút đất bùn lên trên để duy trì độ ẩm.
Tiếp đó, cô khéo léo cuộn rêu ôm trọn củ sâm lại, bên ngoài bọc thêm một lớp vỏ cây phong vàng ươm, cuối cùng dùng lạt cây mềm mại quấn c.h.ặ.t lại. Công đoạn này được gọi nôm na là "đánh bao sâm".
Bảo quản bằng cách này, nhân sâm sẽ giữ được trọn vẹn d.ư.ợ.c tính, các rễ nhỏ li ti cũng không bị gãy vụn do va đập.
Kỳ Phóng gói ghém xong xuôi, liền trao "chiến lợi phẩm" cho Nghiêm Tuyết cất giữ. Thấy Nghiêm Kế Cương tò mò nhón chân ngó nghiêng, cô bèn đưa cho cậu bé mân mê thử một chút.
"Tản ra tìm loanh quanh khu này xem sao," cô vừa nói vừa đưa mắt quan sát địa hình xung quanh. "Sâm con cỡ này đa phần là từ hạt sâm mẹ rụng xuống mà mọc thành. Chắc chắn gần đây phải có 'đại ca' lẩn trốn."
Nghiêm Kế Cương vuốt ve cái bao sâm xong liền trả lại cho chị gái, nghe vậy lập tức hăng hái sốc lại tinh thần, nắm c.h.ặ.t chiếc gậy "sách bảo côn": "Em... em sẽ căng mắt ra tìm thật kỹ!"
Vào giữa chốn rừng sâu núi thẳm chẳng có người ngoài, cậu thiếu niên bỗng chốc trở nên hoạt bát hẳn lên, âm lượng nói năng cũng sang sảng hơn nhiều.
Được một lúc, cậu nhóc chợt đứng khựng lại trước một lùm cây, ngồi xổm xuống căng mắt săm soi kỹ lưỡng: "Chị ơi, nấm này."
"Em đang gọi chị, hay là đang gọi nấm đấy?" Nghiêm Tuyết dở khóc dở cười, nhưng vẫn cất bước tiến lại gần.
Trông kìa, ngay trước mặt Nghiêm Kế Cương quả thực mọc một đám nấm khá rộng. Cuống nấm thon dài, tán ô màu nâu nhạt, chính giữa tán còn rải rác vài lớp vảy sần sùi, thịt nấm trắng phau phau. Đích thị là nấm Mật vòng - một loại nấm mọc cộng sinh với cây thiên ma (một vị t.h.u.ố.c quý), dân gian hay gọi là nấm Phỉ.
Giá như chuyến này họ lên núi săn thiên ma, Nghiêm Tuyết chắc chắn sẽ mừng rơn. Tiếc là mục tiêu của họ lần này là đi săn nhân sâm cơ mà.
Nghiêm Tuyết cũng ngồi xổm xuống cạnh em trai: "Hái đi, gom sạch cả bãi này vào sọt." Rồi cô nhỏ nhẹ răn dạy cậu nhóc: "Lần sau có phát hiện ra cái gì, cũng không được hô hoán lung tung. Đi 'phóng sơn' có luật bất thành văn: hô cái gì là tay phải tóm được cái đó, cốt là để tránh xui xẻo hô sâm mà vớ phải đất không. Lần này em thấy nấm thì không sao, nhưng lỡ đập vào mắt em là con rắn thì tính sao?"
Gương mặt nhỏ nhắn của Nghiêm Kế Cương lập tức lộ rõ vẻ áy náy: "Em biết... biết rồi ạ, lần sau em nhất... định sẽ không hô lung tung nữa."
Với những đứa trẻ hiểu chuyện thế này, không cần phải thuyết giáo nặng lời làm gì, nói sâu quá chỉ khiến chúng thêm tự trách. Nghiêm Tuyết mỉm cười chuyển đề tài: "Nhưng mà em tinh mắt phết đấy, chọn ngay món ngon mà hái."
"Nấm này ăn... ăn được hả chị?" Nghiêm Kế Cương ngẩng đầu, chớp mắt nhìn chị gái.
"Ăn được chứ." Nghiêm Tuyết mỉm cười gật đầu khẳng định: "Tối mang về nhờ bà nội xào ớt cho em ăn nhé."
Lúc này Nghiêm Kế Cương mới trút bỏ được sự day dứt, cuống quýt phụ chị hái cho bằng sạch chỗ nấm, rồi lại khư khư ôm lấy chiếc gậy dò bảo vật tiếp tục công cuộc săn lùng. Lần này thì cậu nhóc bặm c.h.ặ.t môi, chẳng dám hé răng nửa lời.
Nghiêm Tuyết nhìn quanh quất một hồi, vừa định khoác chiếc sọt lên lưng thì người đàn ông bên cạnh khẽ gọi tên cô: "Nghiêm Tuyết."
Cô xoay người lại, tưởng anh có việc gì cần căn dặn. Ai dè ngay giây tiếp theo, bàn tay cô đã bị một bàn tay ấm nóng khác nắm gọn lấy.
Nghiêm Tuyết ngớ người ra một lúc, rồi mới sực nhớ lại câu răn dạy em trai vừa nãy - *hô cái gì thì tay phải tóm c.h.ặ.t cái đó*. Cô không nhịn được buồn cười: "Em đâu có nói cái luật ấy áp dụng cả với con người đâu cơ chứ."
Kỳ Phóng không hé răng nửa lời, vẻ mặt vẫn giữ nguyên sự điềm nhiên tự tại, chỉ là bàn tay đang nắm lấy tay cô lại âm thầm siết c.h.ặ.t thêm một chút.
Đúng khoảnh khắc đó, Nghiêm Kế Cương ở phía trước bất thần khựng lại.
Nghiêm Tuyết cứ ngỡ cậu nhóc định quay đầu lại, vừa tính giật tay ra khỏi tay người đàn ông thì đã nghe thấy cậu thiếu niên dùng hết bình sinh dõng dạc hô toáng lên: "Bổng chùy!"
Tiếng hô của Nghiêm Kế Cương vang dội cả một góc rừng, thậm chí trơn tru đến mức chẳng hề lắp bắp một chữ nào. Hô dứt câu, cậu nhóc mới quay phắt đầu lại nhìn hai anh chị.
Nghiêm Tuyết còn chưa kịp há miệng, Kỳ Phóng đã trầm ổn đỡ lời: "Mấy phẩm diệp?" Bàn tay anh vẫn thản nhiên nắm c.h.ặ.t lấy tay cô, chẳng hề có dấu hiệu buông nới.
Nghiêm Kế Cương lúc này chỉ mải dán mắt vào cây nhân sâm, căn bản chẳng thèm để ý đến bàn tay hai người. Cậu bé mắt sáng như sao, lúng b.úng đáp: "Chắc là... năm sáu phẩm gì đó ạ."
Thế tóm lại là năm phẩm hay sáu phẩm đây hả trời?
Nghiêm Tuyết suýt phì cười.
Hơn nữa Kế Cương cũng chưa hề để ý, nếu bây giờ cô vùng vằng giật tay ra, động tác lớn quá khéo lại "lạy ông tôi ở bụi này", thế nên cô đành giữ nguyên vẻ mặt tỉnh rụi hỏi tiếp: "Nhiều không?"
Đây cũng là một câu "tiếp sơn". Theo quy tắc, người phát hiện bổng chùy hô số lượng càng nhiều càng tốt, dẫu chỉ có một củ đi chăng nữa cũng phải vống lên là "nhiều lắm, nhiều vô kể".
Cậu thiếu niên hiển nhiên vẫn ghi tạc lời dặn dò của chị gái từ trước: "Nhiều... nhiều lắm ạ."
Vừa nói cậu nhóc vừa định giơ bàn tay nhỏ lên đếm. Đang đếm dở, chợt nhớ ra điều gì, cậu nhóc lại quay ngoắt đầu lại. Cuối cùng, ánh mắt ngập tràn hoang mang của cậu nhóc rơi thẳng tắp xuống bàn tay đang nắm c.h.ặ.t lấy nhau của anh chị.
"Đứng cho vững vào." Kỳ Phóng cực kỳ tự nhiên biến tư thế "nắm tay" thành tư thế "đỡ tay", còn buông một câu dặn dò tỉnh bơ nhạt toẹt rồi mới từ tốn rút tay về.
Nghiêm Kế Cương lập tức ngộ ra chân lý. Hóa ra là chị gái suýt vấp ngã, anh rể đang ra tay nghĩa hiệp đỡ chị ấy thôi! Cậu bé lập tức ân cần dặn với theo một câu: "Chị cẩn... cẩn thận nhé."
Chờ Nghiêm Kế Cương quay ngoắt mặt đi, Nghiêm Tuyết thật sự không nhịn nổi, bấu cho tên đàn ông mặt dày này một cấu rõ đau vào bắp tay. Giả đò giỏi gớm nhỉ!
Thế nhưng đã có người hô "Bổng chùy", quy củ dẫu sao vẫn phải tới xem cho tỏ tường.
Nào ngờ, cái "nhiều lắm" của Nghiêm Kế Cương lần này lại là "nhiều lắm" thật sự. Lương theo hướng gậy của cậu nhóc nhìn xuống, thò ra khỏi lùm cỏ phía trước tuyệt đối không chỉ lác đác vài chùm quả đỏ ối.
Thậm chí, xét từ kích thước chùm quả, số nhân sâm này chắn chắn không thể nào là "nhi đồng" nhị giáp t.ử như củ ban nãy. Cậu thiếu niên kích động đến đỏ lựng cả hai má, cứ như sợ bị ai đó nghe trộm mất, len lén ghé sát hỏi nhỏ: "Chị ơi... tụi mình sắp... sắp phát tài rồi phải không?"
Người ta hay bảo kẻ "lính mới" thường gặp may mắn trời ban. Thế nhưng Nghiêm Tuyết chẳng thể ngờ nổi, ba đứa "lính tò te" tụm lại một chỗ mà vận may lại có thể "cháy máy" tới mức độ này.
Cô vừa cong mắt cười tít lại, đôi môi hé mở định đáp lời, nhưng đột ngột biến sắc: "Cẩn thận!"
