Gió Yên, Trà Ấm, Lòng Tự Do - 3
Cập nhật lúc: 18/07/2026 00:01
Ta vừa thong thả bóc vỏ quýt vừa đáp:
“Chàng có tiền đồ là phúc phần của chàng, đâu phải của con.”
“Phu thê đã kết tóc thì vốn là một thể.”
Ta bật cười.
Kiếp trước, ta cũng từng tin lời ấy.
Về sau, khi Chu Hoài Cẩn thăng quan tiến chức, người đời khen chàng tuổi trẻ có tài.
Còn khi ta mệt đến sinh bệnh, họ lại trách thân thể ta yếu đuối, không biết tự chăm sóc.
Phu thê một thể, nói ra quả thật êm tai.
Vinh hoa thuộc về chàng, vất vả thuộc về ta.
Chu Hoài Cẩn đứng chờ ta dưới hành lang đến tận khi bóng chiều phủ xuống.
Chàng nhìn ta, giọng khàn đi:
“An Tuế, kiếp này ta nhất định không để nàng chịu khổ nữa.”
Ta nghe xong, rất thật lòng hỏi lại:
“Vậy chàng có thể để ta ngày nào cũng ngủ đến khi tự tỉnh không?”
Chu Hoài Cẩn khựng lại.
“Có thể để ta không hầu hạ bà mẫu, không chạm vào sổ sách, không phải ứng phó họ hàng, không giúp chàng lo liệu việc quan trường, không sinh con mà cũng không bị người đời thúc ép không?”
Chu Hoài Cẩn lặng thinh.
Ta gật đầu, như thể đã sớm đoán được.
“Đấy, chàng không làm được.”
Ta cười nhạt, rồi chậm rãi nói thêm:
“Vậy nên yêu ma quỷ quái, xin chớ đến gần.”
Chu Hoài Cẩn:
“…”
Mùa xuân đi qua, mùa hạ dần tới, tiệm tô lạc càng ngày càng đông khách.
Cứ cách mấy ngày ta lại đến một chuyến, không vì sổ sách, chỉ vì miếng ăn trong lòng vẫn nhớ.
Hôm ấy, tiệm mới làm món tô lạc lạnh, bên trên rắc hạnh nhân giã vụn cùng đậu đỏ ngào mật.
Ta vừa ngồi xuống, ngoài cửa liền có một nhóm thiếu niên áo gấm bước vào.
Người đi đầu mặc trường bào xanh lam quý giá, trong tay phe phẩy quạt xếp, dáng vẻ phong lưu rực rỡ, khắp người như viết rõ bốn chữ “thiếu gia đắt tiền”.
Chưởng quầy ghé lại nói nhỏ:
“Cô nương, vị ấy là Lương cửu lang của phủ Bình Dương hầu.”
Lương cửu lang tên đầy đủ là Lương Văn Xuyên, một công t.ử ăn chơi nổi danh khắp kinh thành.
Chọi gà, cưỡi ngựa, nghe hát, thưởng hoa, vung bạc như nước; còn đọc sách thì với chàng chẳng khác nào bị ép chịu hình.
Phủ Bình Dương hầu có chín người con, chàng đứng hàng thứ chín, huynh trưởng tỷ muội phía trên đều có chỗ hơn người, càng khiến chàng giống như món đồ thừa được đặt cho đủ số.
Lương Văn Xuyên bước vào, thấy không còn bàn trống, bèn khép quạt, cười nói:
“Bàn này ta trả gấp mười.”
Chưởng quầy đưa mắt nhìn ta.
Ta chẳng buồn ngẩng đầu.
“Không nhường.”
Lương Văn Xuyên nhướng mày:
“Gấp hai mươi.”
“Không nhường.”
“Gấp năm mươi.”
Bấy giờ ta mới nhìn chàng, nghiêm túc nói:
“Lương công t.ử, bạc đúng là mua được rất nhiều thứ, nhưng không mua được thìa tô lạc lạnh mà ta sắp đưa vào miệng lúc này.”
Lương Văn Xuyên sững ra một lát, rồi bật cười vang.
Chàng cười, đám bạn phía sau cũng cười theo, cả tiệm nhỏ trong chớp mắt ồn ào như chợ vỡ.
Ta nhíu mày nhắc nhở:
“Công t.ử cười khẽ một chút, ồn quá sẽ làm món ăn mất ngon.”
Lương Văn Xuyên lại càng cười vui hơn.
Từ hôm ấy, chàng ghi nhớ cái tên Hứa An Tuế.
Ban đầu, chàng chỉ thấy ta khác lạ.
Các cô nương trong kinh gặp chàng, người thì khinh chàng chẳng có chí tiến thủ, người thì nhìn vào cửa hầu phủ sau lưng chàng, người lại cố bày ra dáng vẻ đoan trang e lệ.
Chỉ riêng ta nhìn chàng bằng ánh mắt như đang ngắm một con công sặc sỡ biết kêu.
Mà con công sặc sỡ ấy đương nhiên không phục.
Ngày hôm sau, chàng cho người mang đến một hộp anh đào ngào mật.
Ta nhận.
Ngày thứ ba, chàng lại đem tới một giỏ vải tươi.
Ta cũng nhận.
Ngày thứ tư, chàng tự mình đến hỏi, vẻ mặt đầy đắc ý:
“Hứa cô nương, mấy món ấy có hợp miệng không?”
Ta gật đầu:
“Ngon.”
Lương Văn Xuyên mở quạt, cười hỏi tiếp:
“Vậy còn người tặng thì sao?”
Ta thật thà đáp:
“Hơi ồn.”
Lương Văn Xuyên:
“…”
Chàng giận dỗi xoay người rời đi.
Nửa canh giờ sau, người của chàng lại mang đến thêm một hộp bánh hạnh nhân.
Ta bảo Hạnh Chi nhận lấy, không khỏi cảm thán:
“Người này tuy om sòm, nhưng chọn đồ ăn lại khá tinh tế.”
Hạnh Chi nhỏ giọng hỏi:
“Cô nương không sợ Lương công t.ử có ý đồ sao?”
Ta bình thản đáp:
“Có ý đồ cũng chẳng sao. Lòng ta không để ở chỗ đó.”
Hè vừa sang, kinh thành nóng bức như bị nhốt trong nồi hấp.
Ta vốn sợ nóng, liền thu dọn hành lý đến trang viên ngoài thành tránh nắng.
Trang viên tuy xa xôi hẻo lánh, nhưng thắng ở hai chữ thanh tịnh.
Ban ngày ta nằm trên giường tre ăn dưa lạnh, ban đêm nghe tiếng ếch vang dưới ao, tháng ngày thong dong tựa tiên nhân trốn bụi trần.
Đáng tiếc, thần tiên cũng có lúc bị phiền phức gõ cửa.
Một hôm, ta dẫn Hạnh Chi ra bờ suối hái lá sen, lúc trở về thì gặp sơn tặc cướp xe trên đường.
Hộ viện đ.á.n.h lui đám cướp xong, lại phát hiện bên cạnh bãi đá có một nam t.ử trẻ tuổi bị thương nặng.
Người ấy m.á.u thấm đầy y phục, tay vẫn siết nửa thanh đao gãy, đường nét gương mặt lạnh và cứng, giống một con sói bị mưa gió vùi dập nhưng vẫn không chịu cúi đầu.
Hạnh Chi sợ đến giọng run lên:
“Cô nương, chúng ta mau đi thôi được không?”
Thật ra ta cũng định đi.
Kiếp này, ta đã tự đặt ra một điều luật cho bản thân.
Không nhặt nam nhân ven đường, vì nhặt về thường sinh chuyện.
Nhưng khi cúi mắt xuống, ta nhìn thấy bên hông người nọ có treo một tấm thẻ đồng đã cũ.
Ký ức kiếp trước bỗng hiện lên.
Khi biên quan đại loạn, có một thiếu tướng tên Trần Chiếu từng dẫn tàn quân cố thủ thành trì suốt mười ngày, giữ lại mạng sống cho toàn bộ bách tính trong thành.
Sau đó thành vỡ, chàng c.h.ế.t trên thành lâu, tấm thẻ đồng theo bên người cũng nứt mất một nửa.
Ngày chân dung chàng được đưa vào trung liệt từ, dân chúng khóc suốt ba ngày không dứt.
Người nằm trước mắt, hẳn chính là Trần Chiếu.
