Kinh Nữ Quan - 10
Cập nhật lúc: 08/09/2026 06:03
Ngày mai tự ngươi đi mắng.”
Bà chưa bao giờ đỡ thay ta con d.a.o mà ta tự đỡ được.
Sáng hôm sau lên triều, Lễ bộ thị lang quả nhiên lấy lý do “âm dương có thứ tự” yêu cầu bãi nữ nông lại.
Ta dâng sổ sai sót nghiệm giống ở các chủng sạn.
Nữ nghiệm chủng thủ nhặt ra hạt xấu nhiều hơn, tiền công nhận được lại ít hơn một đoạn.
“Nếu đại nhân cho rằng nữ t.ử không nên làm, thần đồng ý bãi hết.
Chỉ là xin Lễ bộ trước bù số lương tổn thất vì chọn sai giống những năm qua, rồi cử một nhóm nam lại có mắt tốt hơn đến.”
Lễ bộ thị lang nói nữ t.ử lĩnh quan ngân làm tổn thương phong hóa.
“Triều đình phát bổng lộc nhìn vào tay nghề và công lao.
Râu dài đến đâu cũng không chọn được một hạt bệnh.
Đại nhân nếu cảm thấy nữ t.ử lĩnh tiền làm tổn thương phong hóa, không bằng trước hết hiến bổng ngân của chính mình.”
Trên điện có người bật cười.
Hoàng đế thuận thế lệnh Hộ bộ định phẩm cấp và bổng lộc cho nữ nông lại.
Họ vẫn không thể tham gia khoa cử, nhưng có thể dựa vào thành tích thực tế về nông tang, tằm dệt, thủy lợi mà thăng từng cấp.
Tin truyền đến các châu, nữ t.ử đến Ty Nông thự ứng khảo chật kín phố dài.
Có người là quả phụ, có người là phụ nhân bị hưu về nhà mẹ đẻ, có người trồng dâu nuôi tằm hai mươi năm, lần đầu biết bản lĩnh chọn tằm giống của mình cũng có thể đổi lấy quan thân.
Ta không hứa ai cũng được ở lại.
Khảo hạch vẫn nghiêm như cũ.
Phân biệt đất sai thì đi, bỏ sót hạt bệnh cũng đi, chỉ biết thuộc nông thư mà chưa từng xuống ruộng cũng không giữ.
Tiếng mắng không ít, người ở lại lại đứng rất vững.
Ngu Minh Thù cũng ra khỏi ngục vào năm ấy.
Nàng tố giác có công, lại được nhận định trong án là bị phụ thân ép buộc, miễn tội lưu đày, chỉ phán ba năm tù.
Phủ An Quốc công không nhận đứa trẻ, tộc nhân Ngu gia cũng xóa tên nàng khỏi gia phả.
Ngày ra tù, nàng mặc thanh bố y đã giặt bạc màu, dắt một bé trai hơn ba tuổi, đứng ngoài cửa phủ ta rất lâu.
Quản sự hỏi ta có gặp không.
“Gặp.”
Nàng bước vào chính sảnh, ánh mắt từ thủy mạch đồ quét đến công văn trên án, cuối cùng dừng ở hộp quan ấn t.ử đàn của ta.
“Nếu năm đó ta không vào nhà ngươi, chưa chắc ngươi đã giật hoàng bảng.”
Nàng nói.
“Nếu ta không cứu ngươi, ngươi đã c.h.ế.t dưới bẫy thú.”
Nụ cười nàng khựng lại.
“Kiều Tuệ An, ngươi vẫn không chịu ăn nửa phần thiệt.”
“Ta ăn không nhiều, nuốt không nổi thiệt.”
Nàng đề nghị giúp ta kinh doanh chủng sạn.
Nàng hiểu thương lộ, biết tính sổ, cũng biết thuyết phục những thương hộ coi thường nữ quan.
“Ngươi không có tư cách đụng vào quan chủng.”
“Ta có thể bắt đầu từ thư lại thấp nhất.”
“Trong án quan chủng đã c.h.ế.t người, cũng hỏng hơn mười vạn mẫu ruộng.
Ngươi giao sổ chỉ để giữ mạng, đến nay ta vẫn không thấy nửa phần hối hận.
Triều đình cho ngươi sống không có nghĩa nên giao lại cùng một chiếc chìa khóa vào tay ngươi.”
Nàng ôm c.h.ặ.t đứa trẻ:
“Ngươi không sợ ta đầu quân cho đối thủ của ngươi?”
“Cứ đi.
Nhớ kể cho họ nghe phụ thân ngươi và Nghiêm Khai Tế đã thua thế nào.”
Mặt Ngu Minh Thù rốt cuộc trầm xuống.
“Ngươi đã có quyền có tiền, hà tất còn đuổi tận g.i.ế.c tuyệt với ta?”
“Không cho ngươi quản quan chủng gọi là đuổi tận g.i.ế.c tuyệt sao?
Vậy bách tính thiên hạ không có quan chức, chẳng phải ai nấy đều sống trên tuyệt lộ?”
Ta bảo quản sự tiễn khách.
Nàng đi đến cửa thì quay đầu, trong mắt có hận, cũng có thứ hâm mộ mà nàng tuyệt đối không chịu thừa nhận.
Cả đời nàng đều muốn mượn họ của người khác để đổi vận.
Đến tận giờ khắc này nàng mới nhìn rõ, trên xà cửa phía sau ta khắc chính là tên của ta.
Ngu Minh Thù không rời kinh.
Nàng chép sổ cho một cửa hàng bán hàng phương Nam, nửa năm sau gả cho ông chủ đã ngoài năm mươi.
Ông chủ ham sắc đẹp và tài danh của nàng, nàng cần bạc và thương lộ trong cửa hàng, đôi bên đều lấy thứ mình muốn.
Năm sau, ông chủ đột ngột bệnh nặng.
Vì tự ý sửa sổ rồi tranh gia sản với con riêng của ông ta, nàng bị kiện lên công đường.
Bản lĩnh ấy khi dùng đối phó người khác thì luôn thuận lợi, nhưng gặp khế thư có điểm chỉ thật cùng sổ gốc do quan phủ niêm phong, liền không còn đủ dùng.
Nàng không lấy được cửa hàng, chỉ được chia một tiểu viện.
Có người nói nàng đáng thương, hỏi ta có giúp hay không.
Ta không giúp.
Nàng biết viết văn, cũng biết tính sổ, kiến thức hơn xa ta năm đó.
Đường sống bình thường đặt ngay dưới chân, nàng chê chậm, chê thấp, càng chê trên con đường ấy không có ai cho nàng giẫm lên.
Ôn Nghiễn Chương từ Tây Bắc gửi về hai phong thư.
Phong trước viết biên địa rét buốt, hắn không hợp thủy thổ, cầu ta nể tình cũ điều hắn về kinh.
Phong sau nói hắn phát hiện một loại mạch chịu hạn trong đồn điền, nguyện lập công chuộc tội.
Ty Nông thự cử người nghiệm chứng, cái gọi là mạch chịu hạn chỉ là giống cũ địa phương đã trồng mấy chục năm.
Hắn chép công lao của nông hộ vào thư, đến tên giống còn viết sai.
Ta đem thư cùng kết quả kiểm nghiệm lưu hồ sơ, đóng ấn dưới mục “báo gian mạo công”.
Từ đó hắn không còn gửi thư nữa.
Sau này Hà Đông gặp đại hạn.
Quan địa phương vẫn theo lệ cũ xin giảm thuế phát chẩn.
Ta xem thủy đồ xong, chủ động xin mệnh đến Hà Đông.
Kinh Kỳ trị sâu dựa vào đổi giống, cứu hạn ở Hà Đông lại không thể rập khuôn.
Nơi đó không phải hoàn toàn không có nước, mà là ba dòng kênh cũ bị trang viên hào tộc chặn mất.
Ruộng nước thượng du tưới tràn, bách tính hạ du chỉ còn biết chờ trời mưa.
Ta đến Hà Đông, việc đầu tiên là niêm phong những cửa cống tư.
