Lá Thư Xuất Thê - 9
Cập nhật lúc: 30/09/2026 17:01
Ta nhắm mắt nhớ lại hướng sóng đ.á.n.h vào mạn thuyền.
Sau đó lấy tấm bảng ngắm sao ra ước lượng thêm một lần.
“Phía tây nam có một dòng hồi lưu.”
“Nếu đến nửa đêm gió yếu xuống, chúng ta cắt qua thủy đạo này, có lẽ sẽ tránh được bãi đá.”
Lục Tự Bạch nhìn đường ta vạch trên bản đồ hồi lâu.
Sau đó hắn gọi thuyền trưởng vào.
Thuyền trưởng xem kỹ, lại hỏi ta mấy chỗ rồi bất ngờ vỗ mạnh xuống bàn.
“Có thể thử.”
Đêm ấy, đội thuyền đổi hướng theo tuyến đường ta và thuyền trưởng cùng định.
Mãi đến khi trời sáng, mây đen mới tan dần.
Phía trước quả nhiên hiện ra một vùng nước yên tĩnh.
Bãi đá ngầm đã bị bỏ lại sau lưng.
Chim biển lướt qua mũi thuyền, cánh hất lên những giọt nước nhỏ sáng dưới nắng sớm.
Xuân Đào ôm một bát canh gừng chạy tới, ngồi xuống bên cạnh ta.
“Đông gia, đêm qua ta suýt khóc.”
“Gặp cảnh như đêm qua, sợ đến muốn khóc cũng chẳng mất mặt.”
Ta nhận bát canh, uống một ngụm nóng rồi nói tiếp.
“Cuối cùng cô không buông dây.”
“Vậy là đủ.”
Nàng cười, sau đó lại lén nghiêng đầu hỏi ta.
“Vệ phu nhân có phải rất lợi hại không?”
Ta nhìn sang đầu kia boong thuyền.
Vệ Hành đã thay y phục khô, đang ngồi xổm cạnh Lục Tự Bạch, nhất quyết ép hắn uống t.h.u.ố.c.
Lục Tự Bạch nhíu mày, vẻ mặt rõ ràng không tình nguyện.
Vệ Hành liền đưa bát t.h.u.ố.c tới sát hơn.
“Vệ phu nhân rất lợi hại.”
Ta bật cười.
“Nàng còn biết canh Lục đại nhân ăn cơm, uống t.h.u.ố.c đúng giờ.”
“Trên thuyền này chẳng ai dám qua loa trước mặt nàng.”
Xuân Đào cũng không nhịn được mà cười theo.
Sau khi tới đảo cảng, chúng ta dùng vải buồm, đồ sứ và hàng muối đổi về rất nhiều d.ư.ợ.c liệu.
Thương nhân địa phương đặc biệt hứng thú với kỹ thuật làm buồm của chúng ta.
Lục Tự Bạch bèn để ta cùng mấy thợ thủ công ở lại, dạy họ cách phủ lớp chống ẩm lên mặt buồm.
Ta dùng hình vẽ đơn giản giảng liên tiếp ba ngày.
Đến ngày cuối, chưởng quầy bên kia cầm tấm vải mẫu mới dệt, cúi người hành lễ với ta hết lần này tới lần khác.
Khoảnh khắc ấy, ta bỗng nhận ra từng câu mình nói ra đều thật sự có người chăm chú lắng nghe.
Ta không còn chỉ là người vợ ở bên cạnh Tạ Lâm Xuyên, chuyên lo tiền bạc, giữ nhà và chờ hắn trở về.
Những vết chai trên đầu ngón tay, những con số trong sổ, hướng gió từng nhìn thấy, những nút dây từng tự tay buộc, tất cả đang dần ghép lại thành một con đường khác cho chính ta.
Sau khi trở về kinh thành, mọi chuyện lại không thuận lợi như chúng ta mong.
Hải đồ, hàng đơn và mẫu hỏa khí kiểu mới Lục Tự Bạch mang về khiến triều đình tranh luận dữ dội.
Có người cho rằng mở biển quá tốn ngân khố, thương nhân chỉ biết trục lợi, sớm muộn cũng dẫn họa từ biển vào bờ.
Lại có kẻ vin vào vụ xưởng thuyền, quay sang chỉ trích Lục Tự Bạch cấu kết với ngoại thương.
Trong số những người dâng tấu có cả Tạ Lâm Xuyên.
Chuyện ấy là Hạ Huyền Độ nói cho ta biết.
Hạ Huyền Độ là phiên dịch quan từng theo đội thuyền xuống Nam Dương vài chuyến.
Hắn biết sáu thứ tiếng, ngày thường rất ít lời.
Hôm mang bản chép tấu chương tới, thần sắc hắn trầm hẳn.
“Tạ Lâm Xuyên nói nữ nhân trà trộn lên hải thuyền sẽ tổn hại phong hóa.”
“Hắn còn nói Lục đại nhân mượn chuyện hải mậu để vơ vét tiền tài.”
“Trong tấu không ghi thẳng tên cô, nhưng ý tứ đã quá rõ.”
Ta xem hết mấy trang giấy, ngón tay bất giác siết c.h.ặ.t mép tờ tấu.
Vệ Hành đang ngồi bên cửa sổ lau thương.
Nghe đến đó, nàng đặt mạnh cán thương xuống bàn.
“Hắn tự cưới nữ nhi của ân sư, dựa vào thông gia mà chen chân trong quan trường.”
“Bây giờ còn có mặt mũi đứng ra quản người khác làm việc gì sao?”
Lục Tự Bạch từ gian trong bước ra.
Tinh thần hắn đã khá hơn thời gian lênh đênh trên biển, nhưng sắc mặt vẫn có phần nhợt nhạt.
“Chuyện trên triều cứ giao cho ta.”
“Các nàng đừng vì một phong tấu mà tự làm loạn tay chân.”
“A Thân, nếu chàng cứ ngồi chờ bọn họ xử lý, người ta sẽ chặn đường chàng đến c.h.ế.t.”
Vệ Hành đứng bật dậy, giọng nói gấp gáp.
Lục Tự Bạch đưa tay nắm lấy cổ tay nàng.
“Ta đã giao chứng cứ sang Đại Lý Tự.”
“Khoản bạc liên quan tới vụ xưởng thuyền cũng đang được tra.”
“Lúc này nếu ta đối đầu trực diện trên triều, bọn họ sẽ lập tức biến chính cuộc tranh chấp ấy thành cái cớ khác.”
Vành mắt Vệ Hành đỏ lên gần như ngay lập tức.
Ta từng thấy nàng cầm trường thương đứng giữa mưa bão.
Cũng từng thấy nàng đuổi theo khoái thuyền của thủy phỉ mà không hề chớp mắt.
Vậy mà lúc Lục Tự Bạch bị người vu cáo, nàng chỉ có thể ngồi lau cán thương hết lần này tới lần khác.
Dằm gỗ đ.â.m rách mu bàn tay chảy m.á.u, nàng cũng không nhận ra.
Cuối cùng nàng quay mặt đi, giọng thấp xuống.
“Ta biết.”
“Chỉ là tức đến không chịu nổi.”
Lục Tự Bạch giơ tay lau giọt nước nơi khóe mắt nàng.
“Ta biết nàng đang lo cho ta.”
“Trong lòng ta hiểu.”
Hai người im lặng một lúc.
Ta đặt bản chép tấu chương lại trên bàn.
Trong đầu bỗng hiện lên con dấu đồng mà chưởng quầy ở đảo cảng từng tặng cho ta.
Đó là tín vật của thương hành địa phương.
Bên cạnh dấu có khắc số hiệu hải thuyền của họ.
Trước khi chúng ta rời cảng, đối phương còn viết một văn thư, ghi rõ mẫu hỏa khí kia dùng để hộ hàng, đồng thời kê số lượng hàng trao đổi và tiền thuế đã nộp.
Những thứ ấy chưa chắc khiến tất cả người trên triều im miệng.
Nhưng ít nhất có thể cho Ngự sử thấy rõ hàng hóa từ đâu tới, thuế bạc đi vào đâu.
Như vậy lời buộc tội “tư thông ngoại thương” cũng sẽ bớt chỗ đứng.
Quan trọng hơn, dân chúng trong kinh thành căn bản không biết những con thuyền ấy đã mang về thứ gì.
Ta ngẩng đầu hỏi Lục Tự Bạch.
“Đại nhân, mẻ d.ư.ợ.c liệu mang từ Phúc Châu về đã phân đi chưa?”
“Một nửa đưa vào Thái Y Viện.”
“Một nửa chuyển tới những vùng duyên hải đang có dịch.”
“Đầu xuân năm nay huyện Dư cũng có dịch bệnh.”
“Khi ấy giá t.h.u.ố.c tăng rất cao.”
“Nếu không có số d.ư.ợ.c liệu theo đường biển đưa về, người dân bình thường chưa chắc mua nổi.”
Lục Tự Bạch gật đầu.
Ta lại nhớ tới những phụ nhân đang học dệt buồm trong xưởng thuyền.
