Người Dạy Ta Làm Tướng - 1
Cập nhật lúc: 27/08/2026 06:01
Ngày các tộc lão Hoắc gia đến ép cha ta nhận một nam đinh làm con thừa tự, ta đang ngồi xổm trước cửa từ đường mài đao.
Nhị thúc công nói ta chỉ là một nha đầu được nhặt về, sức có lớn đến đâu cũng không gánh nổi môn đình của phủ Trấn Bắc tướng quân.
Cha ta nghe xong, đặt gia chủ ấn xuống bàn rồi hỏi bọn họ: “Nha đầu này năm chín tuổi đã dám đè ta xuống đất mà đ.á.n.h.”
“Trong các người, ai thấy mình chịu đòn giỏi hơn ta thì cứ qua thử trước đi.”
Cả phòng không một ai lên tiếng.
Ta tra thanh đao vừa mài xong vào vỏ, cũng chẳng bước vào.
Thật ra lời họ nói không sai.
Ta là đứa được người ta nhặt về.
Nhưng cha ta cũng là do ta nhặt về.
Trước năm chín tuổi, ta không có tên, người trong thôn đều gọi ta là Mãn Chi.
Bởi khi lý chính nhặt được ta, một cây lê dại bên bờ sông đang nở hoa kín cành.
Ông thấy đó là điềm lành nên giữ ta lại.
Nhưng đến năm tuổi, chỉ bằng một tay ta đã có thể đẩy cối đá chạy vòng quanh sân, người trong thôn lại cảm thấy điềm này chưa chắc đã lành.
Có người bảo ta do sơn tinh sinh ra, có người nói ta là thủy quỷ đầu thai.
Người lớn chỉ dám nói sau lưng, trẻ con thì hét thẳng vào mặt ta.
Chúng gọi một lần, ta đ.á.n.h một lần.
Về sau chẳng ai dám gọi trước mặt nữa, chỉ cần thấy ta đi ngang liền đóng cửa.
Ta không để bụng.
Khi ấy, điều duy nhất ta quan tâm là bữa cơm kế tiếp.
Đóng cửa thì cứ đóng cửa, nhưng đến mùa xuân gieo trồng thiếu người, bọn họ vẫn mang hai chiếc bánh tạp lương hấp đến nhờ ta kéo cày.
Mùa đông không có thu hoạch, ta vào núi săn thú, thỏ giữ lại ăn, da sói và da gấu đem lên trấn đổi muối.
Chỉ cần được ăn no, người khác có sợ ta hay không cũng chẳng quan trọng.
Cuối thu năm ấy, ta nhặt được một lão bà bà dưới dốc Ưng Chủy.
Xe ngựa của bà lật xuống rãnh, phu xe không thấy đâu, nửa cỗ xe đã bị nước lũ cuốn mất.
Bà ôm c.h.ặ.t một đoạn rễ cây, y phục ướt sũng, ngay dưới chân là dòng nước xiết chưa rút hết.
Ta ném con lợn rừng xuống đất, nằm sấp bên mép dốc gọi lớn: “Bà còn bám được không?”
Bà ngẩng đầu nhìn ta, môi đã tím tái vì rét.
“Trước mắt vẫn bám được.”
“Vậy bà chờ ta một lát, để ta kéo con lợn ra xa trước.”
“Nó nặng c.h.ế.t đi được, lỡ rơi xuống đè trúng bà thì ta lại phải cứu thêm một người.”
Lão bà bà vậy mà bật cười.
Ta bẻ hai sợi dây leo to, xoắn lại thành thừng, một đầu quấn quanh eo, đầu kia buộc vào thân cây.
Xuống đến lưng chừng dốc, ta bảo bà ôm lấy cổ mình, còn ta một tay bám dây leo, một tay đỡ bà bò lên.
Có lẽ bà sợ ta không chịu nổi, cứ luôn miệng nói: “Hài t.ử, chậm thôi, đừng cậy mạnh.”
“Ta không cậy mạnh.”
“Bà đừng cử động lung tung, cọ vào cổ ta ngứa lắm.”
Lên được trên dốc, bà nhìn ta hồi lâu, rồi lại nhìn con lợn rừng ít nhất cũng nặng ba trăm cân kia.
“Con săn được đấy à?”
“Ừm.”
“Người lớn nhà con đâu?”
“Chắc c.h.ế.t rồi.”
Thật ra ta không biết họ đã c.h.ế.t hay chưa.
Lý chính nói, nếu không c.h.ế.t thì nào có đạo lý đem một đứa trẻ vừa tròn tháng đặt vào chậu gỗ, thả xuôi theo dòng sông.
Lão bà bà không hỏi thêm nữa.
Ta cõng bà về căn nhà tranh, thay cho bà chiếc áo bông cũ mà vợ lý chính bỏ đi, rồi dùng ván gỗ nẹp chân bị trẹo của bà lại.
Trên người bà có một gói giấy dầu, bên trong là ba chiếc bánh nhân thịt.
Ngâm nước nên mép bánh đã nhũn nát, nhưng mùi thịt vẫn còn thơm.
Bà đưa cho ta hai chiếc, mình giữ lại một chiếc.
Ta nhận lấy nhưng không ăn ngay.
“Ta cứu bà không phải vì thứ này.”
“Ta biết.”
Bà đẩy gói giấy dầu về phía ta: “Nhưng ta già rồi, răng miệng không tốt, ăn một chiếc là đủ.”
“Con còn phải vào núi, dù sao cũng phải lấp đầy bụng.”
Lời này có lý.
Ta ăn hết hai chiếc bánh, thấy bà đang chậm rãi nhai phần của mình, liền lấy nửa khúc thịt khô giấu trên xà nhà xuống, cắt cho bà một nửa.
“Thứ này khó nhai, bà ngậm mềm rồi hãy ăn.”
Khi nhận thịt khô, bà chạm phải những vết nứt vì lạnh trên mu bàn tay ta, bèn hỏi có đau không.
“Không đụng vào thì không đau.”
“Không có ai bôi t.h.u.ố.c cho con sao?”
“Thuốc lại không ăn được, mua làm gì?”
Lão bà bà khẽ thở dài.
Bà ở trong nhà ta bảy ngày.
Ban ngày ta vào núi săn thú, bà kéo cái chân bị thương đi lau sạch bếp, còn tháo tung chiếc chăn vốn bị ta vo thành một cục ra phơi nắng.
Khi ta về, trong nhà có thêm hai chiếc giỏ đan bằng dây mây, chiếc gáo nước bị nứt cũng đã được bà dùng sợi gai quấn lại.
Ta đứng ngoài cửa nhìn rất lâu rồi mới bước vào.
Trước kia ta luôn nghĩ, nhà chỉ cần không dột mưa thì ở đâu cũng như nhau.
Sau khi bà đến, lần đầu tiên ta biết bát rửa sạch phải úp lên giá gỗ, chăn phơi nắng xong sẽ có mùi của mặt trời, buổi tối nếu có người để lại một ngọn đèn bên bếp thì lúc vào cửa không cần mò mẫm tìm đá lửa.
Trước khi ngủ, bà còn chải tóc cho ta một lần.
Tóc ta quanh năm chỉ buộc bằng dây cỏ, bên trong rối thành mấy nút chẳng gỡ nổi.
Bà không chê bẩn, lấy lược gỗ thấm nước, từng chút một chải cho ta.
Khi kéo đau, ta không lên tiếng, nhưng bà lại dừng tay, dùng lòng bàn tay xoa xoa da đầu ta.
Đêm ấy ta ngủ rất sớm.
Nửa đêm tỉnh giấc, sờ thấy chiếc lược gỗ đặt bên gối, ta lại yên lòng ngủ tiếp.
Ngày thứ tám, dưới núi có một đoàn người tìm đến.
Người đàn ông dẫn đầu vừa thấy lão bà bà liền quỳ xuống, đám hộ vệ phía sau cũng đồng loạt quỳ kín đất.
Đến lúc ấy ta mới biết bà họ Hoắc, là lão phu nhân của phủ Trấn Bắc tướng quân ở kinh thành.
Bà đến Bắc Sơn Tự hoàn nguyện, trên đường trở về gặp lũ núi, hộ vệ và xe ngựa bị nước cuốn tản ra.
Trước khi đi, Hoắc lão phu nhân hỏi ta: “Mãn Chi, con có muốn theo ta về kinh không?”
