Phù Chi - 4
Cập nhật lúc: 16/09/2026 00:01
Suốt hai ngày hai đêm, nó liên tục nôn ra nước chua, vậy mà không than một câu.
Thê Trì mấy năm trước cũng từng ngoan như vậy.
Ngày bị đưa đi không khóc, lúc trở về gần như đã không còn gọi ta là nương.
Chỉ biết lạnh lùng mà quy củ gọi một tiếng “mẫu thân”.
Ta sợ rồi.
Sợ Đình Quân cũng biến thành như thế.
“Quân nhi rất nhớ họ sao?”
Đình Quân lắc đầu, khuôn mặt nhỏ căng lên: “Không phải. Sau khi ca ca trở về, cứ nói với con toàn đạo lý lớn, con không muốn nghe. Hơn nữa cha và ca ca lúc nào cũng nói biểu cô tốt, nhưng con biết nương mãi mãi là tốt nhất, nên con không muốn gặp họ.”
Ngực ta bỗng chua xót, ta ngồi xổm xuống nhìn ngang tầm mắt con: “Quân nhi, những đạo lý đó không cần nghe hết. Ca ca con đã học rất nhiều thứ vốn không nên học. Sau này con muốn học gì, nương sẽ từ từ dạy con, dạy con những thứ mềm mại, ấm áp và có tình người.”
“Vậy ca ca còn quay lại học không?”
Ta không trả lời.
Chỉ cúi đầu cười, nắm tay con đi vào một quán mì nhỏ bên đường.
Đình Quân sụt sịt mũi, khuôn mặt nhỏ đói suốt dọc đường bỗng sáng lên.
Bát mì nóng hổi được bưng ra, nước dùng trong đến thấy đáy, hành non xanh mướt nổi trên lớp dầu mỏng.
Ăn mấy miếng mì, bụng ấm lên, lòng cũng nhẹ đi đôi chút.
Lúc ấy ta mới chậm rãi đặt đũa xuống, trả lời câu hỏi ban nãy: “Chờ ngày nào nó tự nghĩ thông rồi hãy nói.”
“Cây mọc lệch còn có thể uốn lại, huống chi là người.”
Dựa vào số bạc dành dụm trong tay, ta mở một tiệm điểm tâm nhỏ ở Nhuận Châu.
Bánh gạo Vân Chưng, bánh đường Tuyết Sương, bánh xốp Hàm Nê.
Trước kia ở trong phủ, Lục Trầm chê một chủ mẫu quản gia ra vào hậu bếp là mất thân phận.
Chàng chưa từng hỏi mùi khói lửa bên bếp núc chứa đựng bao nhiêu cân nhắc của một người mẹ dành cho con.
Trong mắt chàng, đó chẳng qua chỉ là những việc vụn vặt hạ đẳng, không đáng mang lên mặt bàn.
Trước khi xuất giá, ta cũng từng dạy thay ở học quán.
Học vấn chẳng kém Khương Tự, chỉ là không có cái miệng khéo đến mức nói vật vô tri thành sống động như nàng ta.
Nhưng ở Nhuận Châu bây giờ, chẳng ai nói những lời ấy.
A bà nhà bên khen bánh ta hấp mềm xốp, nương t.ử thợ may ngày nào đi qua cũng mua mấy miếng.
Đình Quân nằm bên quầy giúp ta đưa những gói giấy dầu, khuôn mặt nhỏ bị lửa bếp hong đỏ hồng, khóe miệng còn dính đường sương.
Gió từ kinh thành không thổi tới Nhuận Châu.
Người và chuyện rồi cũng sẽ nhạt dần.
Nửa tháng sau, ta tìm cho Đình Quân một tư thục.
Tiên sinh họ Chu, là một tú tài thi trượt đã ngoài sáu mươi, hồi trẻ chỉ thiếu một chút là đỗ, sau đó liền an ổn dạy học ở Nhuận Châu suốt ba mươi năm.
Đình Quân thông minh, học gì cũng nhanh.
Trẻ con ở Nhuận Châu khác với kinh thành, phụ mẫu phần lớn bôn ba kiếm sống bên ngoài, người chạy thuyền, kẻ buôn bán, người khuân vác ở bến tàu, mỗi lần đi là hơn nửa năm.
Con trẻ bị gửi cho người già hoặc nhờ hàng xóm trông nom, không ai quản bài vở, cứ thế lớn lên với một thân hoang dã.
Xuống sông mò cá, trèo cây móc tổ chim, tối mịt mới lững thững về nhà.
Chúng biết ít chữ, căn cơ mỏng, còn Đình Quân học nhanh, biết nhiều chữ, trong mắt chúng lại thành kẻ chướng mắt.
Đình Quân cúi đầu: “Nương, bọn họ không thích con.”
Ta ngồi xổm xuống, nhẹ nhàng nâng cái đầu nhỏ đang cúi của con lên: “Không phải không thích con. Chỉ là bọn họ chưa quen với việc có người chạy trước mình. Sáng mai mang theo một gói bánh quế hoa, không cần nói gì nhiều.”
Tuyết bay lất phất.
Tư thục tan học sớm.
Đình Quân quay đầu nhìn ta một cái, đặt hũ mứt lên bệ cửa sổ, rồi lui về chỗ ngồi mở sách ra.
Chẳng bao lâu, đá nhỏ từ ngoài tường bay lộp bộp vào.
Một giọng trẻ con vang lên: “Ta đã bảo mà! Trưa nay ta thấy nó ăn bánh rồi! Hóa ra nương nó mở tiệm điểm tâm! Bảo sao cứ mang bánh theo khoe khoang!”
Ta nhìn theo tiếng nói.
Bên cửa sổ có hai đứa trẻ choai choai đang ngồi xổm, mở hũ mứt trên bệ cửa, mỗi đứa nhét đầy một miệng.
A Ngưu và Thiết Đản, Chu lão tiên sinh từng nhắc tới, là họ hàng của nương t.ử thợ may đầu ngõ, phụ mẫu đi khuân vác mấy năm mới về một lần.
A Ngưu là đứa cầm đầu đám trẻ hoang này.
Đình Quân cuống đến sắp khóc.
Ta kéo con lại, lấy thêm một đĩa mứt đặt trên ngưỡng cửa: “Ăn xong thì đặt lại.”
Thiết Đản ngậm mứt trong miệng, ngẩn ra: “Người… không mắng bọn ta sao?”
Ta thở dài: “Mắng thì có ích gì?”
Hai đứa nhìn nhau, như thể lần đầu tiên có người hỏi chúng như vậy.
Ta xòe tay: “Hôm nay buôn bán không tốt, bánh chưa bán hết, mứt cũng còn. Các con ăn thì cứ ăn, còn hơn để hỏng.”
Mặt A Ngưu đỏ bừng, cố nuốt thứ trong miệng xuống rồi nghển cổ: “Hừ! Người lớn đều như nhau! Ăn thì ăn rồi, muốn đ.á.n.h muốn mắng cứ tùy!”
Nói xong, nó kéo Thiết Đản chạy mất.
Một hũ mứt chẳng đổi được gì, nhưng đủ để nạy ra một khe nhỏ trong lòng những đứa trẻ ấy.
Tư thục của Đình Quân yên tĩnh được mấy ngày.
Ngày hai mươi chín tháng Chạp, phố ngõ Nhuận Châu ngập tràn hương vị năm mới.
Quầy bán giấy đỏ chữ đen dựng ở đầu ngõ, trong khói bếp lẫn mùi ngọt của bánh hấp và mùi dầu thơm của viên chiên.
Dưới mái hiên, những chiếc đèn l.ồ.ng mới treo nối thành một dải vàng ấm, nhìn qua màn tuyết, tựa như cả con phố đang chậm rãi thở.
Ta, Đình Quân và mấy gia bộc cũ theo tới Nhuận Châu cùng quây quanh chiếc bàn nhỏ ăn một bữa tất niên.
Tiếng cười nói chen lẫn nhau, Đình Quân tựa trong lòng ta ngủ thiếp đi.
Lưu thúc đang thu dọn bát đĩa, bên ngoài có người đốt loạt pháo cuối cùng.
Đúng lúc ấy, mơ hồ nghe thấy tiếng ai đập vào cửa sổ.
