Quyển Vương Ở Thập Niên 60 - Chương 88
Cập nhật lúc: 10/01/2026 14:14
Các lãnh đạo lớn của thành phố lân cận trực tiếp khiếu nại với lãnh đạo thành phố Ngô Thành, kết quả là cấp trên lại điều động thêm nhiều nạn dân đến những bãi sông lớn hoang vắng của thành phố lân cận. Trong phút chốc, dọc theo các bãi sông lớn của sông Trúc T.ử đều dày đặc nạn dân.
Sự xuất hiện của nạn dân không tránh khỏi mang đến sự hỗn loạn và mất ổn định về an ninh cho cư dân địa phương.
Một số nạn dân an phận thì còn đỡ, chỉ đào củ sen bên bãi sông, đợi đến khi họ ăn no, trong người có sức lực thì khó tránh khỏi sẽ tìm đến những làng mạc có người ở để tìm kiếm cuộc sống tốt hơn.
Những người ổn định hơn một chút, ở vùng bị thiên tai nghiêm trọng không sống nổi nữa thì dẫn theo con cái đi ăn xin suốt dọc đường, hoặc trực tiếp được lãnh đạo cấp trên dùng thuyền lớn chở tới. Tóc tai đã sớm bù xù như tổ chim, nhưng dù sao vẫn là phụ nữ, thế là tìm những ông độc thân già địa phương không lấy được vợ, trực tiếp góp gạo thổi cơm chung, thế là thành một gia đình.
Rất nhiều ông độc thân già không tìm được vợ ở địa phương, hoặc những người chưa lập gia đình đều chọn những người phụ nữ đi ăn xin từ nơi khác đến này. Mọi năm còn đòi tiền lễ hỏi, quần áo mới gì đó, ngay cả gả chồng trong năm đói kém mà không có năm cân bột sen thì cũng không lấy được vợ đâu.
Bây giờ thì hay rồi, trực tiếp có cả vợ lẫn con luôn.
Thông thường những đứa trẻ có thể lặn lội đường xá xa xôi được mang tới đây đa số là con trai tám, chín, mười tuổi, con gái rất ít khi được mang theo, lúc thật sự không sống nổi nữa thì bán cho nhà người ta làm con dâu nuôi từ bé cũng là một lối thoát.
Những ông độc thân già không lấy được vợ cũng chẳng để tâm đến những đứa trẻ họ mang theo, có thể mang theo đi lấy chồng chứng tỏ ở quê chắc chắn là chồng mất rồi, con cái cũng không về được nữa. Mà cho dù có về được thì đường xá xa xôi như thế mới tới được đây, con cái còn có tìm được nhà mình không cũng khó nói, cứ nuôi dạy cho tốt thì có khác gì con đẻ của mình đâu?
Trong số những nạn dân này cực kỳ hiếm người mang theo con gái cùng đi ăn xin.
Phụ nữ thì còn đỡ, chứ đàn ông mà vào những ngôi làng lân cận thì đúng là t.h.ả.m họa.
Không có một ngôi làng nào hoan nghênh nạn dân nam vào làng của họ cả, phát hiện ra những nạn dân như vậy đều là vung cuốc, đòn gánh xua đuổi.
Người địa phương dù lương thực đã bị trưng thu quá nửa, nhưng dựa vào núi thì ăn núi, dựa vào sông thì ăn sông, lại đúng mùa thu hoạch, mặc dù vì hạn hán mà hạt dẻ trên núi năm nay mọc không đầy đặn như mọi năm, nhưng dựa vào hạt dẻ trên núi và sản vật dưới sông, người địa phương dù ăn không no nhưng cũng không đến mức da bọc xương như nạn dân, sức lực tự nhiên là lớn hơn nạn dân nhiều.
Người của thành phố lân cận cũng muốn xua đuổi nạn dân về phía nông trường cửa sông Bồ Hà.
Nông trường cửa sông Bồ Hà nơi Đại đội trưởng Hứa cai quản như một bức tường ngăn cách tự nhiên, chặn đứng tất cả những nạn dân mưu đồ đi về phía nam tại vị trí cửa sông Bồ Hà giáp ranh với thành phố lân cận.
Dù có một bộ phận nhỏ nạn dân xuyên qua cửa sông Bồ Hà để đến đại đội Hòa Bình, thậm chí là đại đội Kiến Thiết, nhưng số nạn dân có thể đến được đại đội Lâm Hà là cực kỳ ít.
Ban đầu lãnh đạo thành phố lân cận biết vị trí cửa sông Bồ Hà được phân cho công xã Thủy Bộ còn không hiểu tại sao công xã Thủy Bộ lại tranh giành một mảnh đất ch.ó ăn đá gà ăn sỏi như vậy. Đến khi họ nhìn thấy một cái cổng lầu dựng bằng tre sừng sững ở vị trí giáp ranh với thành phố của họ, bên trên viết "Nông trường cải tạo lao động cửa sông Bồ Hà công xã Thủy Bộ", cùng với bãi sông rộng lớn dày đặc nạn dân đang đào củ sen, họ mới biết các lãnh đạo công xã Thủy Bộ và Ngô Thành đang tính toán điều gì.
Nhưng lúc này họ có muốn tòm tem mảnh đất bãi sông rộng lớn có thể cải tạo thành ruộng lúa này thì đã muộn rồi.
May mắn là trong phạm vi quản hạt của họ, những bãi sông lộ ra khỏi mặt nước như thế này cũng không ít, tuy không còn nơi nào có diện tích rộng lớn và tập trung như vậy nữa, nhưng nếu học theo công xã Thủy Bộ, cũng làm vài bãi sông để trồng lương thực thì cũng khả thi.
Duy chỉ có một điểm không tốt là họ không có vị trí khe hở tự nhiên để phòng thủ như cửa sông Bồ Hà. Bây giờ khu vực này đã do cấp trên sắp xếp cho người của công xã Thủy Bộ đắp đê, một khi đê hoàn thành, nơi này sẽ trở thành một kho lương thực khổng lồ của công xã Thủy Bộ.
Hơn sáu nghìn mẫu ruộng nước thượng hạng, đối với một số thành phố lớn thì có lẽ chẳng đáng là bao, nhưng đối với một công xã nhỏ bé như công xã Thủy Bộ, số lương thực từ hơn sáu nghìn mẫu đất tăng thêm này, tính theo năng suất hiện tại ba trăm cân lương thực một mẫu, một năm có thể tăng thêm ba trăm sáu mươi nghìn cân lương thực. Đây mới chỉ tính theo thu hoạch một vụ một năm, nếu tính thêm lúa vụ mùa nữa, dù sản lượng lúa vụ mùa không bằng lúa sớm, một năm ít nhất cũng có thể tăng thêm năm trăm nghìn cân lương thực.
Chỉ cần nghĩ đến sản lượng lương thực khổng lồ như vậy, lãnh đạo thành phố lân cận đã cảm thấy khó thở rồi.
Cuộc vận động đào củ sen rầm rộ này kéo dài hơn một tháng.
Vốn dĩ cư dân địa phương định đợi đến cuối thu mới bắt đầu đào củ sen, nhưng cũng vì sự xuất hiện của nạn dân mà tất cả đều gia nhập vào đội quân đào củ sen, vì sợ rằng nếu mình không đào thì sẽ bị nạn dân đào sạch mất. Vì thế mà giữa họ và nạn dân đã nổ ra không ít cuộc ẩu đả quy mô lớn.
Ở nông trường cửa sông Bồ Hà là nơi người tập trung đông nhất, dày nhất, và vì ở đây có tiểu đội dân binh canh giữ tổ chức nên cũng là nơi có kỷ luật tốt nhất. Nhiều người đào được củ sen xong đã không đợi nổi, ai có thể gánh được thì gánh về quê ngay, muốn nhanh ch.óng gánh củ sen về cho vợ con, cha mẹ già ở quê có cái ăn để không bị c.h.ế.t đói.
Ai không gánh nổi thì dùng xe bò, xe đẩy một bánh, đẩy, kéo về quê nhà.
Sau khi về, họ lại đưa thêm nhiều bà con lối xóm, kéo theo xe bò, mang theo đòn gánh và dây thừng, tiếp tục đến sông Trúc T.ử đào củ sen.
Hầu như toàn bộ củ sen của sông Trúc T.ử đều bị lật lên một lượt.
Nơi đầu tiên lật xong bãi sông chính là nông trường cửa sông Bồ Hà, ngay cả các loại trai sông trong bãi sông nạn dân cũng không tha, phàm là thứ đồ ăn gì có thể mang về quê được thì đều mang đi hết.
Đợi những người này đi rồi, Đại đội trưởng Hứa liền nhanh ch.óng tổ chức nhân lực dùng cày bừa chỉnh đốn đất đai, đem những bãi sông bị nạn dân đào bới lồi lõm nhấp nhô dùng trâu kéo cày bừa san cho bằng phẳng lại.
Những bùn sông hơi khô và tàn sen trên bề mặt vốn dĩ đều bị nạn dân lật xuống dưới đất, đào lớp bùn sông màu mỡ bên dưới lên. Sau khi bãi sông được san phẳng, đó chính là đất màu mỡ sẵn có.
Thời gian gieo trồng lúa mì mùa đông ở địa phương thường là từ hạ tuần tháng chín đến tháng mười. Lúc này đã gần đầu tháng mười một, nhưng năm nay vì mãi không mưa không tuyết nên lại là một mùa đông ấm, nhiệt độ rõ ràng ấm hơn hẳn thời điểm này mọi năm, lúc này gieo trồng lúa mì mùa đông vẫn còn kịp.
Mà lớp bùn sông màu mỡ chính là loại đất cực tốt để trồng lúa mì mùa đông.
Đại đội trưởng Hứa nghĩ đến vụ thu của đại đội Lâm Hà năm nay, tất cả đều trồng xen canh đậu nành, ngô, lạc, khoai tây các loại, bèn chèo thuyền đưa Kỹ thuật viên Mạnh đến cửa sông Bồ Hà để kiểm tra xem đất đai ở đây thích hợp trồng xen canh lúa mì mùa đông với loại cây trồng nào nhất.
Theo lời khuyên của Kỹ thuật viên Mạnh, họ lại trồng xen canh thêm đậu nành.
Rất nhiều nạn dân vì đường xá xa xôi mà không thể về quê đã được Đại đội trưởng Hứa giữ lại để giúp làm việc trồng lúa mì mùa đông. Những người này đều là những lao động khỏe mạnh, sau khi được ăn no là có đầy sức lực.
Nông trường cửa sông Bồ Hà hiện nay không chỉ là điểm hỗ trợ trọng điểm của công xã Thủy Bộ, mà còn là căn cứ hỗ trợ trọng điểm của Ngô Thành.
Công xã Thủy Bộ vốn sản xuất xi măng, sự hỗ trợ của công xã đối với nơi này tự nhiên là không tiếc sức lực. Không chỉ là con đê đang xây dựng được vận chuyển hết đợt này đến đợt khác gạch ngói xi măng, mà ngay cả nông trường cửa sông Bồ Hà, xi măng và gạch ngói cũng được vận chuyển đến từng đợt một.
Điều này cũng liên quan đến định vị ban đầu của nông trường cửa sông Bồ Hà.
Nơi này đã là nông trường cải tạo lao động giam giữ phạm nhân trong tương lai, trước tiên về mặt an ninh phải đảm bảo phạm nhân sau khi đến đây sẽ không trốn thoát được.
Cũng phải nói rằng, nơi này vốn có điều kiện địa lý bẩm sinh để giam giữ phạm nhân: lưng dựa vào núi lớn, đi lên núi là dãy núi trùng điệp liên miên, hoàn toàn không có đường ra, càng đi sâu vào càng nguy hiểm; phía trước là con sông rộng mênh m.ô.n.g, diện tích mặt sông gần ba mươi nghìn mẫu, dù đã quây một phần đất làm ruộng nhưng ít nhất vẫn còn hai mươi nghìn mẫu diện tích mặt sông, phạm nhân dù có biết bơi cũng không chạy thoát được.
Hai bên phía đông không giáp thành phố lân cận, phía nam không giáp làng mạc, chỉ cần dùng tường cao vây kín hai vị trí đông nam lại thì phạm nhân bị giam giữ ở đây đúng thật là có mọc cánh cũng khó bay.
Các nhà máy xi măng hiện nay, ngoại trừ những người có quan hệ riêng như Hứa Minh Nguyệt có thể mua được xi măng ra, phần lớn xi măng sản xuất ra lúc này đều không dùng cho việc tư, tất cả đều cung cấp cho việc xây dựng đê điều và nông trường cửa sông Bồ Hà.
Họ phải xây dựng đủ nhà ở cho nạn dân trước khi mùa đông giá rét ập đến, để ổn định chỗ ở cho nạn dân trước.
Về mảng xây dựng nhà cửa, Đại đội trưởng Hứa gọi con trai mình là Hứa Hồng Hoa đến, còn tập hợp các thợ nề thợ ngói của đại đội Lâm Hà tại cửa sông Bồ Hà, trực tiếp xây dựng những dãy nhà gạch ngói nằm ngang giống như tường viện, bên trong phòng thống nhất xây bằng hầm hỏa (giường sưởi) thành những sập nằm chung dài.
Không dùng sập nằm chung không được, mặc dù đại đa số nạn dân đã trở về nhưng chỉ riêng số nạn dân ở lại cũng đã có hai ba trăm người. Những nạn dân này đến vào tháng chín, tháng mười, khi đó trời chưa lạnh lắm, họ đa số đều mặc quần áo mỏng manh, dựa vào chút quần áo đó để vượt qua mùa đông là chuyện không thể nào.
Cũng may là có những nạn dân này ở đây, việc xây dựng nhà gạch ngói xi măng tiến độ rất nhanh.
Thợ nề địa phương biết xây hầm hỏa không nhiều, nhưng trong số những nạn dân từ phương bắc đến này lại có không ít người biết xây hầm hỏa, họ xây hầm hỏa vừa nhanh vừa tốt, về cơ bản đều thành công ngay lần đầu.
Hầm hỏa mới xây tạm thời chưa ở được, nạn dân cũng chẳng để tâm. Ven sông những thứ khác không nhiều chứ những bãi lau sậy khô cằn thì đầy rẫy!
Họ lấy nguyên liệu tại chỗ, c.h.ặ.t sạch những bãi lau sậy khô ven sông, đem phơi bên sông hai ngày là thành những tấm đệm lót sàn tốt nhất.
Có những người khéo tay còn đem những cây lau sậy này đan thành chiếu, trải trên mặt đất, buổi tối đi ngủ nằm lên trên, xung quanh toàn là các ông lớn mình mẩy hừng hực lửa, chen chúc trong một căn nhà gạch ngói chật hẹp có thể che mưa chắn gió, trên người đắp rơm rạ mà Đại đội trưởng Hứa đưa cho, đúng là không thấy lạnh chút nào.
Đợi nhà xây xong, Đại đội trưởng Hứa lại bắt đầu dẫn đám nạn dân lên núi c.h.ặ.t cỏ, c.h.ặ.t củi, chuẩn bị củi đốt qua mùa đông.
Lúc này, trên những ngọn núi phía nam con sông lớn đã rải rác khắp nơi người đi c.h.ặ.t củi, c.h.ặ.t cỏ.
Quyền sở hữu núi rừng về cơ bản đã được các đại đội phía nam sông phân chia xong xuôi. Muốn lên núi c.h.ặ.t củi, c.h.ặ.t cỏ cũng không phải chuyện đơn giản như vậy, còn phải có văn bản chuyên môn của cấp trên quy định ngọn núi nào được phân riêng cho nông trường cửa sông Bồ Hà, sau này người của nông trường c.h.ặ.t củi sưởi ấm mùa đông sẽ lấy củi ở khu vực đó.
Văn bản còn chưa ban xuống, Đại đội trưởng Hứa đã dẫn theo nạn dân và tiểu đội dân binh lên núi c.h.ặ.t củi rồi.
Ông không thèm c.h.ặ.t củi ở khu vực công xã Thủy Bộ mà lại sang phía thành phố lân cận, tất nhiên khiến dân núi bên đó bất mãn.
