Quyển Vương Ở Thập Niên 60 - Chương 98
Cập nhật lúc: 10/01/2026 15:16
Còn cả cái giếng cô đào trên núi hoang nữa.
Cũng may là cô đã đào giếng trên núi hoang, cô không cần phải đến cái giếng cổ ở đầu làng Giang Gia tranh nước với người dân làng đó.
Núi hoang là nơi gần giếng cổ đầu làng Giang Gia nhất, nếu xuất phát từ sau núi hoang, đi con đường mà Vương Căn Sinh từng đi thì khoảng cách đường chim bay còn ngắn hơn nữa, băng qua con suối nhỏ hiện đã hoàn toàn cạn khô và bờ ruộng làng Giang Gia là tới giếng cổ đầu làng.
Hứa Minh Nguyệt đã nhận thấy, số người xếp hàng gánh nước ở giếng cổ làng Giang Gia vào buổi sáng ngày càng đông, hàng dài dằng dặc, lại thường xuyên nghe thấy tiếng c.h.ử.i bới và đ.á.n.h nhau, chỉ vì người xếp trước múc quá nhiều nước, người xếp sau hết nước.
Nhưng c.h.ử.i cũng vô ích, nước chỉ có bấy nhiêu, người khác múc đi rồi thì mình hết.
Con người không thể không uống nước, nên đành phải gánh nước từ mương lớn về.
Nước mương thực ra không sạch sẽ gì. Mương lớn làng Giang Gia hiện giờ thế nào Hứa Minh Nguyệt không rõ, nhưng mương lớn của hai ba mươi năm sau thì cô quá rõ rồi. Vì ngôi trường tiểu học duy nhất của đại đội Lâm Hà nằm ở làng Giang Gia, hồi nhỏ cô đi học phải đi qua con mương này. Trong mương cái gì cũng có, nào là vỏ chai t.h.u.ố.c trừ sâu, xác ch.ó c.h.ế.t, chuột c.h.ế.t, chai thủy tinh, ngay cả cái bô của người dân làng Giang Gia hạ thôn cũng đều đem ra mương rửa.
Trong mắt người làng Giang Gia, nước mương là để tưới ruộng, không giống nước ao trong làng hàng ngày phải giặt giũ vo gạo, mấy thứ bẩn thỉu hôi hám đương nhiên không thể rửa ở ao, thế là mương lớn làng Giang Gia trở thành nơi vứt những thứ dơ bẩn đó.
Thời đại này vì tài nguyên khan hiếm, cho đến nay Hứa Minh Nguyệt chưa từng thấy vỏ chai t.h.u.ố.c trừ sâu hay chai thủy tinh nào ở mương lớn, nhưng nghĩ cũng biết, hàng ngày chắc chắn người làng Giang Gia không ít lần rửa bô ngoài mương.
Thế mà giờ đây nước ở một con mương như vậy lại trở thành nước uống hàng ngày của người làng Giang Gia.
Cũng may đó là nước mới dẫn từ sông Trúc T.ử về năm nay, số nước dẫn năm ngoái đã dùng hết để tưới tiêu rồi, nếu không nước trong mương này dù có phèn chua lọc chắc cũng kinh lắm.
Hứa Minh Nguyệt không lo lắng về nước mương lớn của làng Hứa Gia, vì địa thế làng Hứa Gia cao hơn làng Giang Gia. Làng Hứa Gia ở thượng nguồn, làng Giang Gia ở hạ nguồn, nước mương làng Hứa Gia chỉ có đường chảy xuống mương làng Giang Gia, chứ nước mương Giang Gia không chảy ngược lên làng Hứa Gia được, riêng địa thế đoạn đó của làng Hứa Gia đã ngăn cách được nước mương rồi.
Hiện tại nước mương làng Giang Gia không chỉ dùng để uống mà còn phải dùng để tưới lúa mì mùa đông dưới chân núi.
Đến tháng Tư, lúa mì mùa đông trồng dưới chân núi cũng đã đến mùa trổ bông xanh mướt. Đại đội Lâm Hà dù là người già hay trẻ nhỏ đều được tổ chức lại, dùng xe đẩy đi tưới cho lúa mì sắp chín, còn phải làm cỏ, dùng nước trừ sâu do kỹ thuật viên Mạnh pha chế để phun cho lúa mì.
Dù người đại đội Lâm Hà đã dốc hết sức bảo vệ lúa mì, nhưng hai mùa đông không có tuyết, trứng côn trùng trong đất không bị tuyết đông c.h.ế.t, nên lúa mì mùa đông năm nay phát triển không tốt lắm.
Chương 66
Hạn hán vẫn ảnh hưởng đến mùa màng của ba làng Thi, Hồ, Vạn. Dù ba làng này đã chuẩn bị từ trước, đào hồ chứa nước lớn dưới chân núi, nhưng lúc đó thực ra đã hơi muộn, chỉ hứng được nước từ trên núi chảy xuống. Số nước này sau một năm tưới tiêu, đến năm nay đã cạn đáy, nhiều nhất chỉ đủ cầm cự cho việc gieo mầm và cấy mạ năm nay. Sau khi cấy xong, mạ sẽ cần rất nhiều nước, nếu năm nay trời vẫn không mưa vào mùa mưa và mùa mận chín thì mùa màng năm nay coi như mất trắng.
Họ ở khá xa sông Trúc Tử, lại phải đi đường lên núi, đi bộ bình thường thì không thấy sao, nhưng nếu gánh đòn gánh hoặc dùng xe đẩy kéo nước, quá trình lên dốc này sẽ cực kỳ dài và mệt mỏi.
Điều này khiến các tiểu đội trưởng và dân làng ba làng Thi, Hồ, Vạn vô cùng lo âu, bồn chồn.
Nhưng cũng chẳng còn cách nào khác, tục ngữ có câu: Mùa đông lúa mì đắp ba tầng chăn, năm sau gối đầu lên bánh bao mà ngủ.
Đã hai năm không có tuyết rồi, năm nay lại là mùa đông ấm, có được sự phát triển như hiện tại đã là kết quả nỗ lực hết mình của cả đại đội Lâm Hà rồi.
Đại đội trưởng Hứa thời gian này vẫn luôn ở cửa sông Bồ xây dựng nông trang.
Không xây không được, sau khi vào xuân, rải rác có rất nhiều dân tị nạn từ các thành phố lân cận và Ngô Thành kéo đến đây. Nhiều dân tị nạn mới đến không có cái ăn, liền nhổ ngó sen non, cắt mầm lúa mì xanh ngoài đồng để ăn.
Đó đều là lương thực cho sau này, sao có thể để dân tị nạn phá hoại như vậy được? Vì thế Đại đội trưởng Hứa mỗi ngày đều phải dẫn đội dân binh đi tuần tra.
Hiện tại ông có tổng cộng năm tiểu đội dân binh, trong đó một đội là thuộc cấp của ông, bốn đội còn lại là Bí thư Chu tạm cho ông mượn. Nói là cho mượn, nhưng thực tế ngay cả đội dân binh duy nhất dưới quyền ông cũng là do Bí thư Chu thực sự nắm quyền kiểm soát.
Nhưng Đại đội trưởng Hứa không phải hạng người sợ việc, từ nhỏ ông đã ngang ngược, đội dân binh đã vào tay ông thì ông dám dùng. Cả ngày ông bắt hơn hai trăm dân binh này dẫn theo những dân tị nạn ở lại đây trồng lúa mì và dựng nhà cửa hàng rào từ mùa đông năm ngoái cùng luyện tập. Cộng cả đám dân tị nạn đó lại, trong tay ông đã có hơn năm trăm người.
Năm ngoái đám dân tị nạn đó đến đào ngó sen, Đại đội trưởng Hứa đương nhiên không thể không giữ lại một phần. Số ngó sen giữ lại đều được ông tổ chức người rửa sạch làm thành bột sắn dây. Mùa đông không có cái ăn, ông lại bắt dân tị nạn ra bãi sông không người đào ngó sen, đội dân binh dẫn người lên núi săn b.ắ.n, đào củ mài, làm bột củ mài.
Những dân tị nạn ở lại không thể ăn no được, mỗi ngày có hai bát bột ngó sen cầm hơi là tốt lắm rồi, chỉ mong sao lúa mì họ trồng mau chín thì mới thực sự có lương thực.
Cho nên những cây lúa mì này đối với Đại đội trưởng Hứa hay với những dân tị nạn ở lại mà nói đều là mạng sống của họ. Đám dân tị nạn đến sau muốn ăn mầm lúa mì xanh của họ thì khác gì muốn lấy mạng họ? Từng người một đều cầm giáo tre tự vót nhọn, đi theo đội dân binh có s.ú.n.g tuần tra bốn phía, ngăn chặn mầm lúa mì bị ăn mất.
Hầu như ngày nào cũng có xô xát đổ m.á.u!
Đại đội trưởng Hứa chỉ thi thoảng mới được về đại đội Lâm Hà một chuyến để xem tình hình cày cấy vụ xuân năm nay.
Năm nay vụ xuân đại đội Lâm Hà không định trồng lúa ở đất núi nữa. Sau khi thu hoạch lúa mì mùa đông, tất cả sẽ chuyển sang trồng khoai lang xuân, xen canh đậu nành, ngô, lạc.
Đất núi không trồng lúa, nhưng bãi sông bên dưới thì trồng lúa.
Ba làng Thi, Hồ, Vạn vốn còn đang lo lắng chuyện cày cấy, sau khi nhận được chỉ thị của Đại đội trưởng Hứa cũng quyết định trồng khoai lang xuân theo.
Năm ngoái tình hình bội thu của làng Hứa Gia họ đều đã thấy rõ. Cùng là trồng khoai lang, sản lượng của làng Hứa Gia chính là cao hơn làng Giang Gia và ba làng Thi, Hồ, Vạn một chút. Họ đều cho rằng điều đó có liên quan đến kỹ thuật trồng trọt mới mà kỹ thuật viên Mạnh đến dạy. Chẳng phải thấy cuối năm ngoái riêng đậu nành và lạc, làng Hứa Gia đã thu hoạch nhiều hơn các làng khác hơn vạn cân đó sao?
Người làng Giang Gia bề ngoài không nói nhưng thực tế thầm c.h.ử.i c.h.ế.t mấy lão già không nghe lời kỹ thuật viên Mạnh kia rồi. Vụ xuân còn chưa bắt đầu mà người làng Giang Gia đã muốn nhân lúc Đại đội trưởng Hứa không có mặt ở đại đội Lâm Hà để giữ kỹ thuật viên Mạnh lại làng Giang Gia dạy họ trồng trọt trước.
Đại đội trưởng Hứa những lúc khác thì có thể qua loa, nhưng riêng chuyện đồng áng thì không hề mơ hồ. Đầu tiên ông chỉ đạo người đại đội Lâm Hà ủ phân và ươm mầm khoai lang xuân, chỉ chờ lúa mì thu hoạch xong là làm đất kỹ để đảm bảo sản lượng khoai lang xuân không bị giảm sút.
Năm ngoái kỹ thuật viên Mạnh đã bảo họ bùn sông có thể làm màu cho đất. Năm nay số bùn sông đào được ở khu vực nuôi cá nước sâu đê sông cũng không dùng để đắp đê mà dùng xe cút kít đẩy lên chân núi, tận dụng tối đa bùn sông để bón ruộng.
Họ đều sợ lúa mì vừa thu hoạch xong đã lập tức dọn đất trồng khoai lang xuân thì đất không kịp hồi sức.
Ngoài những thửa ruộng của đại đội Lâm Hà dùng để trồng khoai lang, Đại đội trưởng Hứa còn dự định đem hơn sáu ngàn mẫu đất bãi sông ở cửa sông Bồ đều dùng để trồng khoai lang.
Nguyên nhân chính là vấn đề tưới tiêu cho hơn sáu ngàn mẫu đất này vẫn chưa được giải quyết.
Bãi sông của đại đội Lâm Hà chỉ có hơn một ngàn mẫu, chỉ cần một con mương hình chữ "Thập" là có thể hoàn thành việc tưới tiêu cho toàn bộ ruộng lúa bãi sông. Bãi sông ở cửa sông Bồ quá rộng, đất quá nhiều, không phải một con mương chữ "Thập" có thể bao phủ hết được, ít nhất phải cần mấy đường dọc ngang, điều này đòi hỏi rất nhiều nhân lực để hoàn thành.
Đội dân binh hiện tại dưới quyền ông cần phải duy trì trị an, nhân lực thực sự có thể dùng được chỉ có chưa đầy ba trăm dân tị nạn ở lại từ cuối năm ngoái. Dựa vào bấy nhiêu người mà muốn thiết lập toàn bộ hệ thống tưới tiêu nông nghiệp ở khu vực cửa sông Bồ thì chẳng khác nào nằm mơ giữa ban ngày.
Tuy nhiên rải rác cũng có không ít dân tị nạn kéo đến, có thể thuê họ đào mương, nhưng thuê dân tị nạn thì cần có lương thực. Lương thực ở cửa sông Bồ hiện giờ ngay cả đám thuộc cấp hiện có và dân tị nạn còn không đủ ăn, đang phải mòn mỏi chờ lúa mì chín.
Còn chuyện sau khi lúa mì chín sẽ còn lại bao nhiêu lương thực, cấp trên sẽ trưng thu bao nhiêu, số còn lại có đủ để thuê dân tị nạn làm việc hay không, đều là dấu hỏi lớn.
Nhưng Đại đội trưởng Hứa chắc chắn một điều là ông phải giữ lại đủ số lương thực cần thiết cho nông trang cửa sông Bồ của mình, lấy đi của ông một hạt ông cũng không đồng ý!
Và lúc này, ngoại trừ cửa sông Bồ và đại đội Lâm Hà, các đại đội khác để tranh giành nước đều đã đ.á.n.h nhau vỡ đầu chảy m.á.u, đó thực sự là những cuộc hỗn chiến.
Trong đó, thê t.h.ả.m nhất không ai khác ngoài đại đội Thạch Giản.
Dòng suối ở khe núi của đại đội Thạch Giản vốn quanh năm không nghỉ, chảy xiết như sông, cuối cùng cũng cạn kiệt trơ đáy. Lượng nước bên trong chỉ đủ cho dân làng hai bên khe núi dùng hàng ngày, muốn dùng nước khe để tưới tiêu là chuyện không tưởng.
Những năm trước đại đội Thạch Giản còn có thể dùng nước sông Trúc T.ử tưới ruộng, nhưng đại đội Thạch Giản lại nằm đúng ở đoạn cuối của dòng sông này. Hai năm hạn hán khiến mực nước rút hết lần này đến lần khác, giờ đây ngay cả đại đội Lâm Hà vốn ở ngay cạnh sông cũng phải đào mương sâu vào lòng sông Trúc T.ử cả ngàn mét rồi. Nhánh sông của đại đội Thạch Giản lại càng lộ rõ lòng sông, chỉ còn sót lại một chút xíu nước ở đáy. Trong những năm 60 chưa có máy bơm điện thì chút nước dưới đáy sông đó dù có dùng guồng nước cũng không tát lên được.
Họ muốn dùng nước thì chỉ có thể đến đoạn sâu hơn của sông Trúc T.ử bên phía đại đội Lâm Hà để gánh. Chưa nói đến chuyện đại đội Lâm Hà có cho người đại đội Thạch Giản lấy nước hay không, giờ ai mà chẳng biết Đại đội trưởng đại đội Lâm Hà Hứa Kim Hổ đã trở thành Chủ nhiệm sản xuất của nông trang cửa sông Bồ? Dưới trướng có ba bốn trăm người, ai nấy đều mang s.ú.n.g (lời đồn thổi). Tuy đã điều đi cửa sông Bồ nhưng ông vẫn kiêm nhiệm chức Đại đội trưởng sản xuất của đại đội Lâm Hà, mỗi lần về, chao ôi, rầm rộ năm sáu chục người, trên người ai cũng đeo s.ú.n.g dài.
