Sương Rơi Cửa Son - 10
Cập nhật lúc: 03/09/2026 17:02
Chiều tối, Chu Tố Nương quả nhiên quay lại xưởng nông cụ.
Nàng không mang con, chỉ đeo một túi vải cũ.
Trong túi có mấy tờ công phiếu Chu Mãn Thương để lại và một chiếc chìa khóa nhỏ đã gỉ.
Nàng đặt đồ trước mặt ta, vẻ mặt có phần câu nệ.
“Chồng ta biết vài chữ.”
“Sau khi vào xưởng sắt, hắn chuyên quản cửa phụ của kho.”
Nàng chỉ vào một dấu xanh mờ trên công phiếu.
“Dấu này không phải của Tây Sơn.”
“Mấy ngày trước khi xảy ra chuyện, hắn nói ban đêm luôn có người từ cửa phụ chuyển hàng, bảo ta đừng hỏi.”
“Lúc ấy ta còn cãi nhau với hắn, trách chuyện gì hắn cũng giấu trong bụng.”
Ta cầm chiếc chìa khóa lên.
Kẽ răng chìa bám bụi đen, đuôi khắc một chữ “Ất” cực nhỏ.
Nghiêm Hành nhanh ch.óng nhận ra đây là chìa khóa kho cũ của lò Ất.
Sau khi lò Ất bị Lục Đình thiêu hủy, quan phủ chỉ phong tỏa lò rèn, chưa kiểm tra kỹ bức tường kho đã sập.
Chúng ta dẫn người đào tới tận đêm, quả nhiên tìm được một bọc dầu dưới đống gạch vụn.
Bên trong không có binh khí, chỉ có một quyển sổ riêng của thợ thủ công.
Chu Mãn Thương nhớ việc rất tốt.
Sợ mình quên, hắn lén ghi lại xe ngựa, người chuyển hàng và đại khái thời khắc ra vào cửa phụ mỗi đêm.
Chữ xiêu vẹo, có chỗ mực bị nước mưa làm nhòe, nhưng vẫn nhìn ra vài cái tên chưa từng xuất hiện trong hồ sơ vụ án trước đó.
Trong đó có một người là cháu trai của ma ma hồi môn của Tần lão phu nhân.
Người này đã mất tích từ lúc phủ Quốc công bị phong tỏa.
Cố Văn Xuyên cầm quyển sổ riêng đi truy tra, cuối cùng bắt được hắn tại một sòng bạc phía nam thành.
Thứ moi ra từ miệng hắn chẳng phải bí mật kinh thiên động địa gì.
Chỉ là bạc kiếm được từ vụ tư đúc của Lục gia từng có một phần nhỏ vòng qua sòng bạc, giúp mấy họ hàng xa lấp nợ c.ờ b.ạ.c.
Số bạc ấy truy lại chẳng được bao nhiêu.
Nhưng quyển sổ riêng lại trả lại danh phận cho Chu Mãn Thương.
Đại Lý tự bổ sung tên hắn vào hồ sơ của nhóm chứng nhân đầu tiên, cũng ghi chứng cứ hắn để lại trước khi c.h.ế.t vào văn thư kết án.
Chu Tố Nương nghe tin, ôm quyển sổ ngồi thật lâu.
Nàng dùng đầu ngón tay vuốt từng trang chữ của chồng, bỗng nói.
“Người này thật ngốc.”
“Ngay cả một đường lui cho mình cũng không biết chừa.”
“Hắn có chừa.”
Ta nói.
“Chỉ là chừa lại cho mẹ con ngươi.”
Nàng lau mắt, khép sổ lại.
Khi ngẩng đầu, vẻ mặt đã kiên định.
Ngày hôm sau, nàng vào kho làm việc.
Nàng không biết tính toán, trước tiên học nhận ký hiệu hàng và đếm số lượng.
A Đường dạy hai lượt, nàng chê A Đường nói nhanh, bèn dùng than vẽ ô dưới đất để tự học.
Mấy ngày sau, lô nông cụ đầu tiên xuất xưởng do chính nàng kiểm lại.
Ngay cả người phu khuân vác lười nhất cũng không tìm ra sai sót.
Lại một năm đầu xuân, hoa đào ngoài kinh thành nở sớm hơn mọi năm.
Danh tiếng của xưởng nông cụ Tây Sơn dần truyền xa.
Không ít nhà nông thà đi thêm mấy chục dặm cũng muốn mua lưỡi cày và liềm rèn ở đây.
Nghiêm Hành mở rộng phòng sổ sách ở hậu viện Tú Xuân phường gấp đôi.
A Đường học được cách mặc cả với thương nhân lương thực.
Ngay cả Liễu Uyển Nhu, trước kia luôn thích khóc, cũng yên ổn làm việc ở Từ Ấu cục, thỉnh thoảng nhờ người gửi tới vài túi hương do những đứa trẻ được cứu cưu mang thêu.
Ta không nghe tin Lục Đình nữa.
Cho đến trước tiết Thanh Minh, Cố Văn Xuyên sai người đưa tới một công văn.
Trên đó chỉ có vài dòng.
Lục Đình trên đường lưu đày nhiễm dịch, chưa tới Kiềm Châu đã c.h.ế.t tại trạm dịch.
Tần lão phu nhân tuổi cao sức yếu, đi được nửa đường cũng không chịu nổi.
Lục Khiên ngược lại còn sống, bị đày tới biên địa làm quân đồn điền, ngày ngày mang xiềng.
Ta đọc xong, đặt công văn vào chậu lửa.
Trang giấy cong lại.
Lưỡi lửa nuốt chửng những cái tên quen thuộc.
A Đường đứng bên cửa sổ, do dự một lúc mới hỏi.
“Cô nương, người có muốn ra ngoài thành tế một lần không?”
“Không cần.”
Ta nói.
“Cha mẹ ta ở mộ tổ Thẩm gia.”
“Họ không ở đó.”
Ngoài cửa, mưa xuân rơi lất phất trên cành lựu vừa nhú mầm.
Cây lựu già khẽ lay trong gió, đầu cành đã nở ra mấy đóa hoa đỏ nhỏ.
Ta thay kỵ trang màu xanh, cầm cây liềm Triệu Tiểu Mãn tặng, ra cửa đi Tây Sơn.
Lửa lò nhuộm đỏ nửa sườn núi.
Sắt nóng chảy từ rãnh chảy ra, như một dòng sông bỏng rực và sáng ch.ói.
Thợ thủ công chuyển những lưỡi cày mới rèn lên xe.
Bánh xe lăn qua con đường núi còn ẩm, chạy về các điền trang ngoài kinh thành.
Ở ruộng thử dưới chân núi, chiếc cày mới đầu tiên đã cắm xuống đất.
Lão nông giữ cán cày.
Con bò vàng chậm rãi bước về trước.
Lớp đất lật lên mềm và ẩm, mang theo mùi cỏ xanh cùng nước mưa.
Triệu Toàn đứng trên bờ ruộng, nhìn rãnh cày thẳng tắp, bỗng đưa tay lau mặt.
“Trước kia ở Tây Sơn, lò vừa mở là chúng ta ai cũng sợ.”
Giọng hắn khàn đi.
“Sợ thứ rèn ra sẽ lấy mạng người.”
“Sợ một ngày nào đó tới lượt mình c.h.ế.t bên lò.”
“Bây giờ sắt rơi xuống ruộng, lòng mới yên.”
Ta không an ủi hắn, chỉ bảo Nghiêm Hành ghi lại ý kiến của nông dân.
Mũi cày còn cần mỏng thêm nửa phân.
Cán gỗ phải đổi sang gỗ du chịu ẩm tốt hơn.
Lô đầu tiên phải giao hết trước vụ xuân canh.
Lô thứ hai cứ theo đó mà sửa.
Đây là những ngày ta muốn.
Sổ phải tính rõ.
Đường phải đi vững.
Thứ nắm trong tay phải có thể bảo vệ mình, cũng có thể giúp người chịu khó sống t.ử tế có cơm ăn.
A Đường dắt ngựa tới bên ta.
Trên yên treo bản vẽ mẫu mới vừa lấy từ xưởng.
Nghiêm Hành ở dưới dốc kiểm số xe.
Triệu Toàn dẫn thợ thủ công thêm than.
Ai cũng bận đến chân không chạm đất, nhưng gương mặt đều có hy vọng.
Không ai nhắc đến phủ Quốc công đã sụp đổ nữa.
Dường như nó chưa từng để lại chút thể diện nào giữa non sông này.
Ta đứng trên dốc cao, lòng bàn tay áp lên thỏi sắt vẫn còn hơi ấm.
Thành quách phía xa chìm trong sương xuân.
Cánh cửa son cũ của phủ Quốc công đã bị tháo biển, chỉ còn một bức tường trống trải.
Gió xuyên qua thung lũng, thổi tung dải tóc của ta.
Ta xoay người lên ngựa, men theo con đường dài đang dần phủ màu xanh mới, hướng xuống chân núi mà đi.
HẾT.
