Ta Đã Thủ Tiết Thờ Chồng, Sống Kiếp Góa Phụ Suốt Ba Mươi Năm Vì Thôi Mục Dã - Chương 1
Cập nhật lúc: 26/06/2026 15:00
1
“Thế t.ử gia... hắn đã t.ử trận ở Bắc Cảnh rồi.”
Tên lính thân tín báo tang quỳ trên nền đá xanh, lời chưa nói hết đã dập đầu bôm bốp ba cái thật mạnh. Trong sân bỗng chốc im phăng phắc một thoáng. Ngay sau đó, mẹ chồng ta gào khóc một tiếng rồi ngã lộn nhào ra phía sau. Đám nha hoàn, mụ già hầu hạ hỗn loạn thành một bầy, đứa thì bấm nhân trung, đứa thì đổ nước sâm, diễn một vở kịch vô cùng sống động.
Ta đứng dưới hành lang nhìn tất cả những trò này, trong lòng bình lặng như một mặt hồ nước lặng.
Kiếp trước vào thời điểm này, ta còn khóc t.h.ả.m thiết hơn cả mẹ chồng. Ta ngất lịm ngay tại chỗ, khi tỉnh lại thì đổ bệnh suốt nửa tháng trời, cơm nước không màng, trên dưới nhà họ Thôi ai nấy đều khen ngợi ta là một đứa con dâu trọng tình trọng nghĩa.
Sau này ta mới hiểu, nửa tháng đó ta khóc càng t.h.ả.m, thì bàn tính của nhà họ Thôi lại càng gõ vang. Một người phụ nữ tiết hạnh sẵn sàng c.h.ế.t theo chồng còn có giá trị hơn mười vị thế t.ử bằng xương bằng thịt.
“Thiếu phu nhân, xin người hãy nén đau thương.”
Mụ vợ quản gia đỏ hoe đôi mắt tiến đến đỡ ta, nhưng khóe mắt lại đang nhanh ch.óng dò xét sắc mặt của ta. Ta biết mụ ta đang nhìn cái gì. Mụ ta đang xem ta có khóc hay không, khóc có đủ t.h.ả.m thiết không, có đủ để nhà họ Thôi mang ra ngoài làm bàn đạp rêu rao với thiên hạ hay không.
Ta rút tay lại, thản nhiên hỏi: “Người c.h.ế.t thế nào? Xác đâu rồi?”
Tiếng khóc lóc om sòm khắp sân bỗng khựng lại một nhịp. Mẹ chồng ta lồm cồm bò từ dưới đất dậy, nhìn ta với vẻ mặt không thể tin nổi, như thể ta vừa thốt ra lời gì đó đại nghịch bất đạo.
Tên lính thân tín kia chôn c.h.ặ.t đ.ầ.u xuống đất: “Bẩm Thiếu phu nhân, chiến sự ở Bắc Cảnh vô cùng t.h.ả.m khốc, Thế t.ử gia... không giữ được toàn thây, chỉ mang về được một chiếc áo chiến bào đẫm m.á.u và miếng ngọc bội tùy thân của Ngài ấy.”
Không giữ được toàn thây. Chỉ có một chiếc chiến bào, một mảnh ngọc bội.
Kiếp trước ta ôm chiếc chiến bào đó khóc ròng rã ba ngày ba đêm, chưa từng suy nghĩ đến một vấn đề: Một chiếc chiến bào không bị thiêu rụi, không bị băm nát, sao lại trùng hợp đến thế, ngay cả vết m.á.u cũng còn mới nguyên, được xếp gọn gàng ngăn nắm mang về? Trong khi một đại sống người, đến một mẩu xương cũng chẳng tìm thấy.
Ta rủ mắt xuống, đè nén sự lạnh lùng nơi khóe môi: “Ta biết rồi.”
Ta xoay người đi vào trong phòng. Phía sau lưng, tiếng khóc của mẹ chồng đột nhiên cao v.út lên một tông, từng tiếng một như nện thẳng vào lưng ta. Mụ ta đang khóc cho ta nghe. Mụ ta đang nhắc nhở ta: Đến lúc phải khóc rồi, đến lúc phải ngất rồi, đến lúc phải đổ bệnh rồi, và cũng đến lúc phải khoác lên mình bộ tang phục kia, cả đời này đừng hòng cởi ra nữa.
Khi đi đến góc rẽ của hành lang, ta nghe thấy mẹ chồng hạ thấp giọng, nhanh ch.óng dặn dò quản gia: “Mau, mau đi tìm bản thảo tấu chương xin ban thưởng tiết hạnh ra đây, tranh thủ mấy ngày này dư luận đang xôn xao, nộp lên càng nhanh càng tốt.”
Giọng nói rất nhỏ, nhưng từng chữ từng câu lại lọt thỏm vào tai ta. Kiếp trước ta không hề nghe thấy câu nói này. Khi đó ta đang hôn mê trên giường, chìm đắm trong giấc mộng làm người con dâu hiền thảo của nhà họ Thôi.
Thật đáng tiếc. Kiếp này, một giọt nước mắt ta cũng không thèm nhỏ vì hắn nữa.
2
Lễ đầu thất còn chưa qua, bàn tính sai khiến của nhà họ Thôi đã phơi bày ra trước ánh sáng. Người đến là Lão thái quân trong tộc, cũng chính là tổ mẫu của Thôi Mục Dã. Bà ta chống gậy, được người ta dìu vào phòng ta, vừa bước qua cửa đã lau nước mắt sụt sùi: “Đứa trẻ ngoan, chịu khổ cho con rồi.”
Ta dâng trà cho bà ta, lặng lẽ ngồi nghe bà ta phân trần. Bà ta vòng vo một hồi lâu, từ việc ba đời nhà họ Thôi đều là bậc trung liệt, nói đến sự hiền thục đức hạnh của ta từ ngày gả vào đây, cuối cùng mới lộ ra dã tâm thật sự.
“Mục Dã vì nước hy sinh, triều đình chắc chắn sẽ có phần thưởng vinh danh. Con dâu nhà họ Thôi chúng ta lại càng phải kiên cường đứng vững. Con tuổi đời còn trẻ, mấy mươi năm sau này... nếu con giữ được tiết hạnh, đó là phúc phận của nhà họ Thôi, và cũng là thể diện của nhà họ Ôn các con.”
Giữ được tiết hạnh. Ba chữ nhẹ tênh tựa lông hồng, nhưng lại giống như một sợi dây thừng, âm thầm tròng vào cổ ta không một tiếng động.
Kiếp trước, ta đã cảm động đến rơi nước mắt mà gật đầu đồng ý. Ta tưởng rằng đó là sự coi trọng, là lời ủy thác, là việc trao cả bộ mặt của nhà họ Thôi vào tay mình. Lúc đó ta mới ngu ngốc làm sao. Ta đã không nhìn thấy cái liếc mắt ra hiệu giữa Lão thái quân và mẹ chồng khi bà ta quay người bước ra khỏi cửa. Ánh mắt ấy chẳng có lấy nửa phần đau thương, chỉ toàn là sự đắc ý khi một thương vụ béo bở vừa được chốt hạ thành công.
Sau này ta mới biết, ngay hôm sau cái gật đầu của ta, nhà họ Thôi đã vội vã dâng tấu chương xin ban thưởng lên triều đình. Trong tấu chương viết rõ: Thê t.ử của thế t.ử là Ôn thị, tuổi mới mười chín, thề c.h.ế.t giữ tiết thờ chồng, kính xin triều đình ban biển vinh danh. Nửa đời sau của ta, cứ như vậy bị bọn họ dùng một câu nói, một tờ giấy ghim c.h.ặ.t vào trong từ đường của nhà họ Thôi.
Kiếp này, ta nâng chén trà, nụ cười trên môi còn hiền từ, hòa nhã hơn cả bà ta: “Lão thái quân nói rất phải. Có điều,” Ta chuyển biến thái độ, “Ta gả vào nhà họ Thôi chưa đầy hai năm, không con không cái, thui thủi giữ một tòa viện trống, thì tính là loại con dâu gì của nhà họ Thôi chứ? Theo con thấy, chi bằng các người sớm ngày thả con về nhà mẹ đẻ, nhà họ Thôi cứ chọn một đứa trẻ trong tộc quá kế sang, như vậy cũng tốt để nối dõi tông đường cho Thế t.ử gia.”
