Ta Dùng Mỹ Thực Chinh Phục Giới Giải Trí - Chương 117: Vịt Tay Thiên Thê
Cập nhật lúc: 26/02/2026 07:07
Mọi người cũng quay lại, hết Tết rồi cuộc sống vẫn phải tiếp tục.
Lạc Anh vốn tưởng sau khi phim 《Chinh Tây》 của đạo diễn Hạ đóng máy, biên kịch Trần An Ni và Tiền Văn Khuê về quê ăn Tết, Thẩm ảnh đế cũng về Bắc Kinh nhận việc mới, bữa tối tư phòng của cô sẽ tạm dừng.
Không ngờ tối mùng Sáu, Tiền Văn Khuê nhắn tin nói phim truyền hình mới của anh — 《Tiếng Gió Gián Điệp》 — mùng Tám khai máy, mùng Bảy dàn chính sẽ đến đủ, muốn cùng nhau ăn một bữa.
Khách tự tìm đến, không có lý do từ chối.
Tối mùng Bảy, Lạc Anh chuẩn bị tám món.
…
Món đầu tiên được bưng lên — Vịt tay Thiên Thê.
Thiên Thê Áp Chưởng (天梯鸭掌) là món ăn truyền thống Bắc Kinh xưa, từng xuất hiện trong yến tiệc lớn.
Món gồm chân vịt rút xương, hấp cùng giăm bông, măng và rong biển, có ngâm rượu Hoa Điêu.
Tên “Thiên Thê” bắt nguồn từ cách xếp măng thành tầng như bậc thang lên trời.
Hương vị hài hòa giữa mặn của giăm bông, ngọt nhẹ mật ong, thanh của măng và thoảng mùi rượu.
Hiện nay món này khá hiếm, gần như chỉ còn trong phục dựng ẩm thực cổ truyền.
Đạo diễn bỗng nhớ ra lai lịch món ăn, kể rằng đây từng là món trứ danh của t.ửu lâu Đồng Hòa Đường ở kinh thành xưa, chỉ xuất hiện trong yến tiệc lớn.
Kim Gia nhìn đĩa thức ăn.
Chân vịt màu nâu đỏ óng ánh, phía trên buộc bằng sợi rong biển xanh mảnh, kèm măng và thịt nguội.
Cắn một miếng.
Chân vịt giòn sần sật, không mềm nhũn như chân gà hấp tàu xì thường ngày. Đã rút xương rút gân, ăn rất tiện.
Rượu hoa điêu thoang thoảng, thịt nguội mặn mà, mật ong ngọt nhẹ, măng thanh mát, thêm chút vị tươi của rong biển.
Mặn – ngọt – thơm – thanh hòa quyện tinh tế.
Một món ăn mà mỗi tầng vị đều rõ ràng, phong phú đến mức khiến cả bàn người đều sững sờ.
Ăn xong một chiếc, dư vị còn đọng mãi.
Lúc này, Kim Gia đã cầm thực đơn lên.
Món đầu đã kinh diễm như vậy…
Vậy món thứ hai là gì?
Món thứ hai — rau cải tần ô xào thanh đạm.
Cải tần ô, cũng chính là cải cúc, còn gọi là bồng hao. Thường thì người ta ăn cải cúc nhiều nhất là trong lẩu; nếu nói dùng cải cúc để làm món riêng, người bình thường cũng phải nghĩ nửa ngày: cải cúc thì chắc là đem xào ăn nhỉ?
Nhưng “xào thanh”, lại còn chỉ lấy phần thân, liệu có nhạt nhẽo quá không?
Đợi Kim Gia đọc xong tên món thứ hai, đạo diễn lại ngẩng đầu lên, ho một tiếng, bắt đầu phát biểu.
“Tôi thật sự chưa từng ăn thân cải cúc. Nhưng trong Hồng Lâu Mộng có món hao t.ử cán, chỉ là xào với thịt gà xé. Còn món xào thanh này thì không biết hương vị thế nào.”
Kim Gia không ghét cải cúc. Hồi học cấp ba, mẹ cô thường đi cùng cô học lớp nghệ thuật buổi tối, không có thời gian nấu cơm, ở nhà liền lục tủ lạnh rồi nấu một nồi lẩu.
Lẩu tự nấu ở nhà bây giờ có người thấy phiền phức: phải chuẩn bị nước dùng, phải sơ chế đủ loại đồ ăn, quan trọng nhất là ăn xong còn phải rửa nồi, chẳng ai thích làm.
Nhưng lẩu nhà họ thì không cầu kỳ vậy. Rau chỉ có cải thìa, cải cúc, hẹ; bố còn bày thêm ít rau mùi. Thịt là bò béo, cừu béo, thêm ít hàu vào là đã ngọt lịm.
Cũng chẳng có nước dùng gì đặc biệt, chỉ nước lã thêm chút hành gừng, lắm thì thả vài quả táo tàu, sôi lên là ăn được.
Kim Gia không thích ăn hẹ, rau mùi thì làm đồ ăn kèm còn được; cải thìa phải chấm sốt mới ngon, vì thế ngoài ăn thịt ra, cô gần như chỉ ăn ít cải cúc trong nồi.
Cải cúc trong lẩu chín là ăn được. Lẩu nhà ăn không cầu kỳ, gia vị cũng không đa dạng như tiệm lẩu bây giờ. Người miền Bắc ăn lẩu thường dùng sốt mè, mẹ cô lại mở thêm một chai đậu phụ lên men, cắt chút rau mùi và hành hoa, thế là thành bát nước chấm.
Cải cúc nấu chín xanh mướt, màu càng đậm hơn. Thường nấu hơi kỹ, ăn mềm mềm; vì cải cúc dài, c.ắ.n đứt cũng bất tiện, gần như phải nhét cả cọng vào miệng. Thân cải cúc mềm giòn thấm nước canh, lá thì mềm mượt; chấm sốt mè là thơm mùi thanh của rau quyện với hương mè.
